Muốn đánh giá chất lượng ngân hàng ta phải khảo sát 4 nhóm chỉ số gồm: Hiệu quả kinh doanh, chất lượng nguồn vốn, chất lượng cho vay, an toàn vốn ngân hàng. Vì bài viết có giới hạn nên hôm nay chỉ xin chia sẻ chi tiết 4 chỉ số cơ bản nhất đại diện cho từng nhóm chỉ số trên để đánh test nhanh sức khoẻ của ngân hàng:
1. NIM - Nhóm hiệu quả kinh doanh
NIM là tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net Interest Margin), cũng là sự chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi. Mục đích sử dụng NIM là để đánh giá mức độ hiệu quả của các tài sản sinh lời mà doanh nghiệp đầu tư vào, đồng thời thể hiện khả năng kiểm soát chi phí từ lãi mà doanh nghiệp phải trả cho các chủ nợ. Tại sao lại vậy ? Vì:
NIM = (Thu nhập lãi - chi phí lãi)/tài sản sinh lời
Trong đó tài sản sinh lời là các khoản Tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước (II), Tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng (III), Chứng khoán kinh doanh (IV), Cho vay khách hàng (VI), Chứng khoán đầu tư (VIII) trong phần Tài sản của Bảng cân đối kế toán. Các khoản tài sản này sẽ sinh ra Thu nhập từ lãi sau đó đem điều chỉnh với chi phí lãi sẽ còn lại thu nhập lãi thuần . Nếu doanh nghiệp phân bổ tài sản sinh lời hợp lý, hiệu quả thì lãi thuần sẽ cao, lãi thuần càng cao thì LNST cũng càng cao (Điều mà bất cứ nhà đầu tư nào cũng mong muốn). Ngược lại, giả sử ngân hàng A năm 202x có những khoản cho vay khó đòi (nợ xấu cao), chứng khoán đầu tư cũng lỗ nặng, điều này sẽ làm thu nhập từ lãi giảm kéo theo NIM giảm, cuối cùng là LNST giảm. Như vậy nếu quan sát thấy NIM giảm qua các năm thì đó có thể là dấu hiệu cho thấy hiệu quả phân bổ tài sản sinh lời của ngân hàng gặp vấn đề. NIM càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản sinh lời của ngân hàng càng tốt. VD (Hình 1): Năm 2017 - 2021, NIM của TCB cải thiện rõ rệt, LNST của TCB cũng theo đó mà tăng mạnh.
2. CASA - Nhóm chất lượng nguồn vốn:
CASA (Current account savings account) là tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn. Vốn ngân hàng chủ yếu đến từ tiền gửi nhưng tuỳ loại tiền gửi sẽ có chi phí khác nhau ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Vì vậy muốn biết chất lượng vốn có tốt hay không thì phải biết tiền ngân hàng phân bổ chủ yếu ở khoản nào trong tổng tiền gửi. Đó là lúc ta cần xem xét chỉ số CASA. Vì:
CASA = (Tiền gửi không kỳ hạn + ký quỹ)/(Tổng tiền gửi + Giấy tờ có giá)
Nên CASA cao chứng tỏ tiền của ngân hàng nằm chủ yếu ở các khoản tiền gửi không kỳ hạn và ký quỹ (các khoản tiền gửi có lãi rất thấp từ 0,0% - 0,3%). Nhờ đó mà ngân hàng nhận được tiền với chi phí thấp hơn giúp cho Biên lợi nhuận và NIM cao hơn, rủi ro cũng thấp hơn. CASA cao cũng chứng minh rằng doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh tốt hơn các ngân hàng khác khi có thể cho vay với lãi suất thấp hơn mà vẫn đảm bảo lượng tiền gửi cao. Nguyên nhân đến từ việc ngân hàng có nhiều sản phẩm, dịch vụ mới, ứng dụng công nghệ tốt. VD (Hình 2): Với ứng dụng công nghệ tài chính thuộc hàng tốt nhất, Techcombank luôn có tỷ lệ CASA hàng đầu trong các doanh nghiệp ngân hàng, theo sau là những cái tên quen thuộc như VCB, MBB, VPB. Như vậy muốn chọn được ngân hàng có lợi thế cạnh tranh, kiểm soát chi phí tốt và có dư địa tăng trưởng trong tương lai thì đầu tiên doanh nghiệp phải có CASA cao.
3. NPL - Nhóm chất lượng cho vay:
NPL là tỷ lệ nợ xấu cho biết khả năng kiểm soát nợ xấu (từ nợ nhóm 3 đến nhóm 5) của ngân hàng. Đầu tư ngành ngân hàng không thể nào không quan tâm đến nợ xấu của ngân hàng đó, vì nợ xấu tác động đến chi phí thứ quyết định trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng.
NPL = Nợ xấu / Tổng dư nợ
Nợ xấu càng cao, ngân hàng càng phải trích lập dự phòng càng nhiều gây kìm hãm hoạt động cho vay của ngân hàng. Khi không đòi được nợ, nguồn vốn của ngân hàng cũng thất thoát trong khi ngân hàng vẫn phải trả chi phí lãi từ các nguồn vốn khác gây ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận ngân hàng.
Tỷ lệ NPL gia tăng qua các năm là một dấu hiệu cảnh báo khả năng quản lý nợ xấu của ngân hàng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ có khả năng sụt giảm mạnh trong tương lai. Ngược lại, NPL duy trì ở mức thấp hoặc có xu hướng giảm, biên lợi nhuận của ngân hàng sẽ được cải thiện tích cực. (Hình 3: NPL của TCB giảm đáng kể từ năm 2013 - 2016 và 2018 - 2021 đã đóng góp cho sự tăng trưởng lợi nhuận từ thời điểm đó đến nay). Như vậy NPL sẽ giúp ta chọn được ngân hàng có khả năng quản lý nợ xấu tốt, tiềm năng tăng trưởng mạnh.
4. CAR - Nhóm an toàn vốn:
Cuối cùng, CAR (Capital adequacy ratio) là hệ số an toàn vốn - là tỷ lệ vốn tối thiểu để đảm bảo cho các khoản tiền của người gửi trước khi ngân hàng vỡ nợ. Như vậy tỷ lệ CAR càng cao càng thể hiện mức độ an toàn và uy tín ngân hàng. Ngân hàng uy tín thì sẽ huy động được nhiều nguồn tiền gửi với chi phí thấp, lợi thế cạnh tranh cao. Huy động được nguồn vốn lớn, ngân hàng sẽ có tiền để đầu tư vào các hoạt động sinh lãi giúp cải thiện lợi nhuận. Theo chuẩn mực Basel II (Khung đo lường rủi ro tín dụng) thì CAR tối thiểu là 8%. Tuy nhiên các ngân hàng đầu ngành như TCB, VPB luôn duy trì tỷ lệ CAR ở mức cao và tiền gửi từ khách hàng của 2 ngân hàng trên cũng rất đáng kể (Hình 4). Tóm lại để đánh giá mức độ lành mạnh tài chính của ngân hàng thì CAR là một lựa chọn tốt. (Hệ số CAR được trình bày trong các Báo cáo thông tin của các NHTM cổ phần hoặc có sẵn do được tập hợp trong một số công cụ tài chính như WiChart.)
Kết hợp 4 chỉ số trên với tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận, doanh thu, ROE là đã có thể tạo ra 1 bộ lọc nhanh những cổ phiếu ngân hàng tốt. Tuy nhiên để gia tăng mức độ hiệu quả trong quá trình phân tích em vẫn khuyến khích anh/chị tìm hiểu đầy đủ hơn về 4 nhóm chỉ số trên cũng như tỷ trọng nguồn vốn và mô hình hoạt động của các ngân hàng.
0 comments:
Đăng nhận xét