• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Hiển thị các bài đăng có nhãn BCTC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BCTC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2025

Cách phân tích bảng cân đối kế toán hiệu quả

Trả lời 12 câu hỏi sau:


1. Công ty có bao nhiêu tiền mặt?

👍Nhiều tiền mặt hơn nợ vay.


2. Công ty có các khoản phải thu không? Bao nhiêu?

👍 Không có. Điều này có nghĩa là công ty được thanh toán bằng tiền mặt.


3. Công ty có hàng tồn kho không? Bao nhiêu?

👍 Không có. Điều này có nghĩa là công ty không phải lo quản lý hàng tồn kho.


4. Công ty có lợi thế thương mại (goodwill) không? Bao nhiêu?

👍 Không có. Điều này có nghĩa là công ty phát triển một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào việc mua lại doanh nghiệp khác.


5. Tài sản lớn nhất của công ty là gì?

👍 Tiền mặt. Điều này có nghĩa là công ty có sự linh hoạt tài chính cao.


6. Công ty có nợ không? Bao nhiêu? Loại gì?

👍 Không có. Điều này có nghĩa là công ty không sử dụng nợ để tài trợ hoạt động.


7. Công ty có doanh thu chưa thực hiện (deferred revenue) không?

👍 Có. Đây là dấu hiệu cho thấy công ty nhận tiền trước khi cung cấp sản phẩm/dịch vụ.


8. Nợ lớn nhất của công ty là gì?

👍 Doanh thu chưa thực hiện. Xem câu 7.


9. Công ty được tài trợ bằng gì? Nợ hay vốn chủ sở hữu?

👍 Vốn chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là công ty không có nợ vay.


10. Công ty có cổ phiếu ưu đãi không?

👍 Không. Cổ phiếu ưu đãi là dấu hiệu cho thấy công ty có cấu trúc tài chính kém hiệu quả.


11. Lợi nhuận giữ lại có dương và tăng trưởng không?

👍 Có. Điều này có nghĩa là công ty có lợi nhuận và giữ lại lợi nhuận để phát triển.


12. Công ty có cổ phiếu quỹ không?

👍 Có. Điều này có nghĩa là công ty đang mua lại cổ phiếu của chính mình.




Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2025

NHIỀU ĐIỀU VỀ RÚT RUỘT CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG - VIỆT CARLO

 1. Các kỹ thuật cơ bản để rút ruột công ty cổ phần đại chúng, tôi sẽ ghi thêm cả phần tự đặt câu hỏi tự trả lời vì các bạn có thể còn mơ hồ:

a. Bán lại dự án bất động sản cho công ty sân sau hoặc cá nhân với giá bán thấp:
- Hội đồng quản trị bỏ túi phần chênh lệch
- Vừa ko phải chia lợi nhuận cho cổ đông, vừa tránh thuế vì cá nhân chỉ chịu 2% thuế TNCN
=> Câu hỏi: Vậy cổ đông không thắc mắc gì sao, khi công ty quyết định bán dự án với giá vốn và chịu lỗ trong kỳ ?
=> Thay mặt HDQT công ty đó, tôi trả lời bạn:
Thưa quý cổ đông, trong giai đoạn nền kinh tế biến động bất lợi, pháp lý khó khăn, lãi suất lên dẫn đến sức hấp thụ thấp, ban điều hành ưu tiên dòng tiền để công ty có thể có nguồn lực sẵn sàng thu gom quỹ đất giá rẻ sắp tới khi cần, chuẩn bị cho chu kỳ đất mới. Với tinh thần trách nhiệm cao nhất vs cổ đông và niềm tin mạnh mẽ vào sự phục hồi thị trường 1-2 năm tới, chúng tôi quyết định hy sinh lợi nhuận 1 kỳ để đạt các lợi ích dài hạn to lớn hơn cho cổ đông.”
b. Đem tiền cho vay hoặc hợp tác đầu tư với công ty hoặc cá nhân sân sau, có thể là bên liên quan chính thức hoặc công ty ma không liên quan:
=> Câu hỏi: Vậy cho vay hoặc hợp tác đầu tư không đòi được thì ăn nói sao với cổ đông ?
=> Cho vay mà con nợ làm ăn thua lỗ không đòi được, hợp tác đầu tư mà thua lỗ không có lợi nhuận để chia là bình thường. Nếu không đòi được thì trích lập dự phòng phải thu khó đòi cho công ty chịu chi phí và xóa sổ khoản nợ, hoàn toàn hợp pháp.
c. Phát hành riêng lẻ giá thấp: Lãnh đạo có thể tay không bắt giặc, vay nóng để lấy tiền mua cổ phiếu riêng lẻ hoặc rút ruột để lấy tiền mua cổ riêng lẻ.
- Nếu rút ruột để lấy tiền, sẽ có 1 giai đoạn dìm giá cổ phiếu bằng cách ép cho lợi nhuận xuống thấp thậm chí lỗ trong 1 2 quý (bằng nhiều cách, ví dụ sang tay dự án giá rẻ cho sân sau nói trên hoặc dừng dự án lãi cao tạm thời chưa tiến hành), vừa làm công ty lỗ, giá cổ phiếu xuống thấp, vừa rút lấy tiền để mua chính cổ phiếu bán tháo giá rẻ của các bạn.
- UBCK chấp nhận phương án phát hành của DN và việc phát hành diễn ra, cá nhân sân sau đứng tên đóng tiền đàng hoàng, nhận cổ phiếu, và công ty tuồn tiền đó ra trả lại cho lãnh đạo bằng nhiều hình thức (cho vay hoặc hợp tác đầu tư, trả trước người bán, phải thu khách hàng), khi đó giá vốn cổ phiếu là 0 đồng.
- Tất nhiên sau khi đã mua được cổ phiếu, lợi nhuận lại được cho trở lại như bình thường bằng việc tiến hành tiếp các dự án biên lãi cao để đẩy giá lên.
d. Phát hành cho cổ đông hiện hữu: chú ý khi lãnh đạo cũng đồng thời là cổ đông lớn. Thực hiện các thủ thuật giá vốn 0 đồng và rút tiền ra tương tự ở kỹ thuật ở câu C. Phương án sử dụng vốn do ĐHDCD thông qua có thể đc HDQT thay đổi sau đó, hoặc chính phương án sử dụng vốn do ĐHDCD thông qua cũng đã ảo vì lãnh đạo đồng thời là cổ đông lớn có tỷ lệ biểu quyết cao.
e. Ưu ái cho nhà cung cấp công ty sân sau với giá cao hoặc các thủ thuật rút ruột trên nhằm làm công ty lỗ, cổ phiếu xuống giá, dùng tiền rút ruột để mua lại cổ phiếu giá rẻ, sau đó ép lợi nhuận tăng đột biến trong thời gian ngắn để bán ra.
f. Tạm ứng cho nhân viên, cá nhân liên quan hoặc không liên quan 1 số tiền lớn vô lý (vài trăm thậm chí cả nghìn tỷ), không nói rõ mục đích, không tài sản đảm bảo, và dĩ nhiên khoản này không hề giảm trong nhiều quý, trong vài năm.

2. Các dấu hiệu rút ruột trên báo cáo tài chính:

a. Tiền mặt và tiền gửi (đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn) gọi chung là tiền: Tiền mặt về lý thường phải tăng gần cùng 1 tốc độ với tốc độ tăng trưởng kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận), nếu doanh nghiệp vừa thu tiền phát hành tăng vốn từ cổ đông thì lại càng phải có nhiều. Nếu doanh thu lợi nhuận tăng trưởng tốt, mỗi năm lãi cả nghìn tỷ, lại còn liên tục phát hành tăng vốn cũng cả nghìn tỷ, mà tiền thường xuyên chỉ có vài chục tỷ, đó là dấu hiệu có vấn đề.
- Đây cũng là dấu hiệu điển hình vì số tiền lớn thường chỉ xuất hiện ở công ty rút ruột trong thời gian ngắn (1-2 quý), rất khó không có tiền mà lập báo cáo tài chính con số ảo vì tiền mặt tiền gửi là 2 tài khoản kiểm toán kiểm tra nhanh chóng nhất. Mà nếu đã là công ty rút ruột mà còn để lại tiền trong công ty cho các bạn ngắm thì chẳng phải khùng sao.

b. Phải thu:
- Đầu tiên, chú ý nếu tổng phải thu quá lớn (trên 20% tổng tài sản là lớn, trên 30% xem là quá lớn).
- Nếu vậy, xem kỹ hơn:
Phải thu về cho vay: Trừ các định chế tài chính (bank, CTCK), các công ty sxkd bình thường không có chuyên môn nghiệp vụ cho vay nên cổ đông không ưu tiên việc cho tổ chức hay cá nhân khác vay. Ngoài ra, tiền phải được đầu tư vào các tài sản kinh doanh như tồn kho, phải thu khách, xây dựng cơ bản, TSCD, hoặc quỹ dự trữ để phục vụ tăng trưởng doanh thu cốt lõi, việc cho vay quá nhiều là 1 điều vô lý đặc biệt là cho cá nhân vay và không có tài sản đảm bảo, không có thuyết minh chi tiết mục đích cho vay, lãi vay thấp hơn lãi ngân hàng hoặc cho vay trên 12 tháng (dài hạn). Hơn nữa, chú ý nếu ghi nhận lãi cho vay thường xuyên nhưng lãi suất không bằng tiền gửi ngân hàng, và nếu có ghi nhận lãi suất (doanh thu tài chính) thì dòng tiền thu lãi suất đó không xuất hiện trong báo cáo dòng tiền trong năm (Dòng tiền từ hoạt động đầu tư) nghĩa là cơ sở để thấy không thực thu được tiền lãi. Các khoản cho vay tồn tại trong nhiều năm nhiều tháng không thấy thu hồi, hoặc có thu hồi ở ông A, ông B, ông C, thì cũng lập tức tuồn cho vay ông D, ông E, ông F, tóm lại là không có dòng tiền thực thu.
[​IMG]
DCS - ĐẠI CHÂU 2021- Các khoản phải thu cho vay chiếm phần lớn tổng tài sản và đều là các cá nhân, không có thông tin rõ ràng.
[​IMG]
FLC - 2016 - Các khoản cho vay đồng loạt xuất hiện cùng 1 năm, trong đó đa số là các công ty có dính dáng đến FLC, 1 số công ty mới thành lập được nửa năm, vài công ty có chung 1 người đại diện pháp luật.

Phải thu khác: Hợp đồng hợp tác đầu tư (bất động sản), đặc biệt chú ý khi các đối tượng nhận hợp tác đầu tư BDS là cá nhân hoặc công ty mới thành lập, vốn điều lệ 2-3 tỷ mà hợp tác đầu tư làm dự án cả nghìn tỷ, hoặc các công ty/cá nhân liên quan (thường ít, vì bọn nó thiếu gì công ty), và các khoản này nằm đó thời gian dài (vài năm), hoặc cứ thu hồi 1 khoản của ông A thì lại dùng tiền đó hợp tác với ông B, tiền chỉ luân chuyển chắp vá chứ không thực sự thu được.
Trả trước người bán: DN có trách nhiệm chiếm dụng vốn tối đa của người bán, sẽ vô lý khi khoản này quá nhiều, nhiều hơn cả phải thu khách hàng, và nằm đó ít biến động trong 1 thời gian rất dài, thậm chí số dư còn tăng lên theo thời gian trong khi công ty thiếu tiền nên vẫn phải tăng vay nợ ngân hàng.
[​IMG]
FLC 2016 - Trả trước cho người bán phần lớn là cho ROS và bên liên quan.
c. Đầu tư tài chính dài hạn: DN đầu tư liên tục vào các khoản này, đặc biệt chú ý khi vốn đầu tư là từ tăng vốn cổ đông. Tuy nhiên sau đầu tư thì cổ đông ko check được hiệu quả: Các công ty đó lỗ hoài hoặc không lãi mấy, hoặc ghi nhận theo phương pháp giá gốc (công ty liên doanh liên kết) nên không thể biết được kết quả kinh doanh của chúng, và doanh nghiệp không hề nhận được cổ tức từ công ty đầu tư ấy qua nhiều năm. Tóm lại, tiền đầu tư đi vào và im hơi lặng tiếng không còn thấy nhắc đến, không thấy hiệu quả nhưng công ty vẫn tiếp tục huy động vốn cổ đông để tích cực đi đầu tư thêm cty khác.
[​IMG]
FID - Liên tục thoái vốn/rút vốn khỏi các khoản đầu tư với đường đi của tiền rất lắt léo, thiếu vắng cổ tức từ các khoản đầu tư, ghi nhận khoản đầu tư trên BC riêng theo phương pháp giá gốc dẫn đến sự khó khăn trong việc kiểm chứng hiệu quả làm ăn của các khoản đầu tư này.

3. 1 số doanh nghiệp có các quyết định tài chính bất thường trong quá khứ, tất nhiên số lượng DN ko chỉ có vậy:
a. GIL: Năm 2021, phát hành riêng lẻ 16.8 triệu cp giá 35,000 (1 nửa giá thị trường) tương ứng 46.67% lượng cp đang lưu hành, tiêu chí lựa chọn ndt rất mơ hồ.
b. VCR: quý 4/2020, phát hành riêng lẻ 144tr cp giá 10,000 (1 nửa giá thị trường) tương ứng gần 4 lần lượng cp đang lưu hành. Mục đích chào bán bổ sung vốn khu đô thị Cái Giá, Cát Bà. Đợt phát hành hoàn toàn cho nhiều cổ đông nhỏ lẻ không ai sở hữu trên 5%, và cổ đông hiện hữu không rõ đó là ai.
c. 
DGT: 2020, phát hành 44tr cp bằng 1.6 lần lượng cp đang lưu hành, giá bằng 36% thị giá. Tờ trình phương án phát hành chỉ nêu điều kiện chỉ là “không phải cdhh vì cty ko đủ điều kiện phát hành cho cdhh”. 1 nhóm cổ đông công ty đã khởi kiện ra tòa vì vi phạm trình tự triệu tập họp ĐHDCD, chậm công bố thông tin tài liệu (chỉ công bố 1 ngày trước khai mạc), giá chào bán cp riêng lẻ thấp hơn cả giá trị sổ sách. Danh sách cổ đông chiến lược do HDQT lựa chọn không chi tiết về điều kiện lựa chọn, năng lực và cam kết.
d. APC: 2018, 3 triệu cp riêng lẻ cho dưới 100 ndt và 6 tr cp cho cdhh giá 20,000, trong khi thị giá là 75,000. Sau đó vấp phải phản đối từ cổ đông phải hủy tờ trình và sửa giá ph lên 40,000. Đồng thời cổ đông chất vấn danh tính ndt chiến lược Torus Capital Investments Pte. Ltd (Singapore) vì đây là 1 công ty TNHH có vốn điều lệ 1,000 đô sing do bà Trần Hạnh Hoa sở hữu 100% vốn, thành lập nửa năm trước đó với chỉ 4 nhân viên.
e. JVC: 9/1/2015, chào bán cổ phiếu cho cdhh 50 triệu cp thu 750 tỷ. Kế hoạch ban đầu là mua sắm thiết bị khám sk lưu động, liên kết thiết bị y tế tại các bv, trung tâm kỹ thuật cao tại các bv và tổng thầu vật tư tiêu hao.
- Sau đó, 11/2015 HDQT JVC điều chỉnh kế hoạch sử dụng vốn, dùng 235 tỷ trả nợ ngắn và dài hạn do Vietinbank cưỡng chế nợ.
- Đến 4/2016 số tiền 785 tỷ tiền mặt và đầu tư tài chính biến mất. Trong đó 403 ứng trước, bảo lãnh và thanh toán hộ không rõ lý do cho CTCP thiết bị y tế triết tôn tiên (315 tỷ) và CTTNHH thương mại Hướng đông (88 tỷ), là các cty liên quan thành viên BGD cũ hoặc người nhà. Cả 2 khoản chưa được DHDCD phê duyệt và lập tức đã trích 100% dự phòng ?!
- 87 tỷ tạm ứng hầu hết là cho các lãnh đạo tiền nhiệm và đã dự phòng 94% (tức đã xác định mất gần hết không thể thu hồi).
f. SKG: Nghi vấn mua tài sản cố định (tàu chở khách) với giá cao từ công ty sân sau. Từ đó làm cho biên lợi nhuận gộp vốn luôn ở mức cao (70%) sau 2016 sụt giảm dần, đi đôi với sự gia tăng mạnh mẽ từ tài sản cố định hữu hình do mua tàu với mức giá cao hơn trước 2016 rất nhiều.
[​IMG]
SKG – Tỷ suất lợi nhuận gộp đảo chiều mạnh đi cùng với giá trị mua sắm đột biến của tài sản cố định (tàu) giai đoạn 2016 – 2017.

4. Các dấu hiệu gợi ý về có rủi ro gian lận, thao túng báo cáo tài chính hoặc thậm chí rút ruột doanh nghiệp:

- Đăng ký giao dịch hoặc niêm yết khi vừa mới thành lập, sản phẩm dịch vụ ko rõ ràng hoặc mô hình kinh doanh rất phức tạp (đa ngành đa nghề, vừa bất động sản, vừa điện mặt trời, cung cấp nước, lại cả khách sạn, du lịch và nông nghiệp…), cấu trúc tập đoàn chồng chéo nhiều công ty con, nhiều công ty liên doanh liên kết, tốc độ tăng vốn rất nhanh bằng lần (tăng vốn ảo)

- Liên tục phát hành tăng vốn (riêng lẻ hoặc cho cổ đông hiện hữu) với giá rẻ hơn giá thị trường. Có tiền sử bán chui mua chui cổ phiếu, chậm trễ công bố thông tin hoặc đưa thông tin ra rồi lại đính chính (ví dụ không mua đủ số lượng cổ phiếu đã đăng ký, chỉnh sửa phương án phát hành cổ phiếu khi bị cổ đông phản đối v.v…) nhiều lần.

- Lãnh đạo liên tục mua bán cổ phiếu, thường xuyên lên media nói về giá cổ phiếu, đặc biệt quan tâm đến thị trường chứng khoán và cách mà giới đầu tư đánh giá công ty. Cái miệng đạo lý và cái tay mua bán cổ thường không đồng thuận với nhau.

Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2024

Những điểm trọng yếu khi soi BCTC một Doanh Nghiệp

- NỢ/VCSH (nợ vay)

- TIỀN MẶT/TÀI SẢN NGẮN HẠN

- CÁC KHOẢN PHẢI THU, PHẢI THU KHÁC/Doanh thu (Cái này rất quan trọng, xào nấu nó nằm ở đây)

- TỒN KHO/Doanh thu

- CHI PHÍ XD CƠ BẢN DỞ DANG

- LỢI NHUẬN GỘP BH & CCDV

- SOI KỸ MỤC VCSH, BẢN CHẤT NHỮNG CON SỐ HÌNH THÀNH NÊN VCSH (Để tìm ra mấy ông tăng vốn ảo)

- DÒNG TIỀN VÀO RA, SOI KỸ 3 CỘT CỦA BC LCTT.

Mục THUYẾT MINH BCTC đọc thật kỹ : 

- GIAO DỊCH CÁC BÊN LIÊN QUAN (Cái này rất quan trọng, xào nấu nó nằm ở đây)

- HỢP ĐỒNG HỢP TÁC ĐẦU TƯ (BCC - Nếu ai có kiến thức tài chính kế toán sẽ hiểu được BCC không khác mấy với răng nanh ma cà rồng, là con đường dễ nhất, hợp lý nhất để cash out và hút máu của nhỏ lẻ. Các công ty BĐS niêm yết đều sử dụng thủ thuật này rất nhuần nhuyễn.

Quan trọng nhất: 

- CHẤT LƯỢNG VỐN HÓA

- CHẤT LƯỢNG TÀI SẢN

- CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN

Các quỹ lớn người ta quan tâm :

Chất lượng vốn hóa

Chất lượng tài sản

Chất lượng lợi nhuận

Nói chung là một DN có BCTC đơn giản, dễ hiểu, sạch sẽ, lãnh đạo đáng tin cậy.

Ở VN người ta mua cổ phiếu vì cái nhất thời, kiểu như quý này, quý kia, năm này năm kia EPS cao, LN khủng gì đó. Nó giống như việc chọn lấy một người vợ vì nó mới đại phẫu, hoặc nó mới trúng số, chứ không phải một tiểu thư giàu từ trong trứng, gia đình ngon lành bao đời ở phố cổ, đại loại thế.

Ở VN khi xem xét 1 DN đầu tư người ta ít quan tâm tới:

CHẤT LƯỢNG VỐN GÓP

CHẤT LƯỢNG TÀI SẢN

CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN

Vì thế mới có tình trạng nhiều DN BV 10.000 - 20.000 mà giá cổ cánh 2.000 - 5.000, nhiều mã EPS = 2.000 - 4.000 mà giá cổ cánh ì ạch 3.000 - 10.000 >>> PE = 1-2-3 mà chả ma nào thèm mua. Nhiều nhà đầu tư xem đây là sự phi lý của thị trường nhưng thật ra cái gì cũng có nguyên do của nó. Những định chế tài chính lớn họ có cái nhìn khác với đám đông nhỏ lẻ ở điểm này.

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2024

CÁCH NHÌN TRÊN BẢNG CÂN ĐỐI PHÁT SINH. PHÁT HIỆN RA ĐƯỢC NHỮNG RỦI RO CÓ THỂ KẾ TOÁN ĐANG LÀM K HỢP LÝ.

 CÁCH NHÌN TRÊN BẢNG CÂN ĐỐI PHÁT SINH. PHÁT HIỆN RA ĐƯỢC NHỮNG RỦI RO CÓ THỂ KẾ TOÁN ĐANG LÀM K HỢP LÝ.


1. Tiền mặt còn nhiều mà vẫn đi vay

2. Tài khoản 133 và 33311 cả 2 đều có số dư cuối kỳ

3. Tài khoản doanh thu (511) nhỏ hơn 632

4. Thấy tài khoản 1388,1381 còn rất nhiều số dư cuối kỳ cũng như tài khoản 3388;3381 còn sồ dư cuối kỳ rất nhiều

5. Tạm ứng TK 141 còn số dư rất nhiều

6. Tài khoản 154 ko còn số dư ĐỐI VỚI doanh nghiệp dịch vu và DN SX

7. Doanh thu giảm nhưng TK hàng tồn kho 155,1561 với số dư cuối kỳ càng tăng

8. Hay là doanh thu giảm nhưng tài khoản hàng tồn kho 152 lại tăng

9. Tài khoản 334 luôn có dư cuối kỳ bằng không (Vì ko có Cty nào mà tính lương rồi trả lương cuối tháng bao giờ cả. Rất ít).

10. Tài khoản 131 có số dư cuối kỳ bên có với số tiền lớn mà ko có biến động giữa đầu năm so với cuối năm (Có thể là khách hàng đã CK mà Cty đã bán hàng rồi nhưng chưa xuất hoá đơn)

12. Tài khoản 241 đã hoàn thành rồi mà chưa kết chuyển sang 211 để trích khấu hao (Vì thực tế đã đưa vào sử dụng). Với lý do là chưa có đầy đủ hoá đơn chứng từ. Vì thấy còn tồn tại rất lâu từ năm này sang năm khác

13. Tài khoản 153 còn số dư cuối kỳ với số tiền lớn và xem bảng chi tiết toàn bộ là máy vi tính. Ko ai mua máy vi tính mà nhập kho cả

14. Tài khoản bên có 214 trích khấu hao rất ít so với nguyên giá tài sản cố định 211;213

15. Doanh nghiệp có phát sinh đi vay với số tiền lớn nhưng chi phí lãi vay 635 rất ít. Do đó, cần xem xét đơn vị đã ghi đủ chi phí lãi vay chưa cũng như xem thử là doanh nghiệp có vốn hoá chi phí lãi vay hay không

16. Doanh thu tăng so với năm trước nhưng lợi nhuận lại giảm hoặc thậm chí là lỗ

17………………Còn rất nhiều trường hợp khác nữa.

Nguồn: Sưu tầm

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2023

BCTC công ty BDS

 Trên BCTC, “của để dành” của doanh nghiệp bất động sản thường được biểu hiện thông qua hai khoản mục là người mua trả tiền trước và doanh thu chưa thực hiện. Hai khoản mục này tuy có thể hiểu tương tự nhau nhưng vẫn có một số điểm khác biệt.


Điểm giống nhau giữa hai khoản mục là đều biểu hiện cho số tiền mà doanh nghiệp bất động sản nhận trước từ khách hàng và sẽ được ghi nhận thành doanh thu khi doanh nghiệp hoàn tất nghĩa vụ về bất động sản theo hợp đồng với khách hàng. Tuy nhiên, mỗi khoản mục lại có ý nghĩa riêng cũng như cách hạch toán về doanh thu khác nhau.


Đối với người mua trả tiền trước, khoản mục này thường được quan tâm tại các doanh nghiệp bất động sản nhà ở. Số tiền tại khoản mục này sẽ được để yên và chỉ được chuyển thành doanh thu khi doanh nghiệp hoàn thành và bàn giao hạng mục bất động sản cho người mua. Do đó, khi doanh thu từ một dự án được “giải phóng” khỏi Người mua trả tiền trước thường sẽ giúp doanh nghiệp ghi nhận kết quả kinh doanh đột biến trong quý hoặc trong năm.


Trong khi đó, doanh thu chưa thực hiện lại là khoản mục được quan tâm tại các doanh nghiệp bất động sản khu công nghiệp (KCN), do đặc thù ngành là cho thuê bất động sản trong thời gian dài nhưng thường nhận toàn bộ giá trị hợp đồng một lần ở đầu kỳ và khoản tiền này sẽ được hạch toán vào doanh thu chưa thực hiện. Sau đó, số tiền sẽ dần được phân bổ thành doanh thu theo từng kỳ trong suốt thời gian khách hàng thuê đất. Nhờ đó, các doanh nghiệp bất động sản KCN thường có nguồn thu ổn định hàng quý, hàng năm.


Nhìn chung, tỷ trọng hai khoản mục người mua trả tiền trước và doanh thu chưa thực hiện trên tổng tài sản càng lớn, càng chứng minh được doanh nghiệp bất động sản đó sẽ có nguồn doanh thu ổn định trong tương lai.

---------------------

Đối với DN BĐS 

Có 3 thứ quan trọng nhất 

- quỹ đất

- năng lực tài chính

- năng lực triển khai

Và điểm bùng nổ của 1 CP BĐS thường sẽ rơi vào điểm rơi của chu kỳ hoạch toán của 1 đại dự án nào đó đủ lớn để thổi bùng lên doanh số và lợi nhuận

Và chúng ta hoàn toàn nhìn thấy điều này qua BCTC 

Chi phí dở dang chuyển sang hàng tồn kho=> hàng sắp được bàn giao và ghi nhận

Ngừoi mua trả tiền trước để đo lường lượng hàng bán và cơ sở của doanh số, lợi nhuận

Bđs là loại hình doanh nghiệp rất đặc thù, nếu phân tích kiểu theo mô tiếp như DN sản xuất hay dịch vụ bạn sẽ sai lầm




Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

BCTC công ty chứng khoán

 Các điểm cần chú ý khi xem báo cáo tài chính của ngành chứng khoán

Ngành chứng khoán nói riêng và tài chính nói chung có những đặc thù riêng có nên không thể áp dụng các phương pháp phân tích đánh giá báo cáo tài chính như các đối tượng doanh nghiệp khác. Đối với ngành này, điều quan trọng nhất là xem xét doanh nghiệp mục tiêu có thể mạnh và chiến lược kinh doanh thuộc những mảng nào để chúng ta chú trọng vào phân tich chi tiết thế mạnh đó:

Thứ nhất theo quy định có hiệu lực từ đầu năm 2017 Công ty chứng khoán có 3 loại tài sản tài chính (TSTC) là: FVTPL, AFS và HTM.

– HTM chủ yếu là tiền gửi ngân hàng (ở mốt số công ty có khoản mục này rất lớn như SSI, VND là do họ có nghiệp vụ kinh doanh nguồn vốn hưởng chênh lãi suất) nên không liên quan đến việc ghi nhận lãi không thường xuyên từ danh mục tự doanh. Còn lại là FVTPL và AFS.

– Tài sản tài chính ghi nhận qua lãi lỗ (FVTPL) – theo quy định mới, TSTC FVTPL sẽ được hạch toán theo giá thị trường thay vì giá vốn điều chỉnh cho các khoản lỗ chưa thực hiện từ 2016 trở về trước. Theo đó các khoản lãi chưa thực hiện nhờ thị giá cao hơn giá vốn sẽ được ghi nhận cho dù chứng khoán đã được bán hay chưa và thị giá vào ngày cuối quý trước sẽ được lấy làm giá để tính lỗ/lãi chưa thực hiện cho quý tiếp theo.

– Tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS): lãi/ lỗ chưa thực hiện sẽ không hạch toán trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh. Lỗ chưa thực hiện sẽ đi vào bảng có tên “báo cáo thu nhập toàn diện khác”. Sau đó được ghi nhận trực tiếp vào mục “đánh giá lại tài sản” trong phần vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Lãi chưa thực hiện (thị giá cao hơn giá vốn) sẽ không được ghi nhận vào lợi nhuận. Đến khi chứng khoán được bán thì khoản lãi này mới được ghi nhận vào lợi nhuận trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh.

– Việc phân loại TSTC FVTPL và AFS có thể gây khó hiểu cho nhà đầu tư do các công ty chứng khoán được phép phân loại TSTC là FVTPL hay AFS theo mong muốn chủ quan của họ. Do vậy các công ty chứng khoán sẽ có chính sách riêng khi phân loại các TSTC này.

Thứ hai đánh giá hiệu quả kinh doanh từng mảng của công ty chứng khoán:

– Khác với các doanh nghiệp sản xuất thương mại hay các loại hình khác doanh thu và chi phí ghi trên báo có KQKD là con số tổng hợp, đối với công ty chứng khoán doanh thu và chi phí của từng mảng được tách biệt rất rõ ràng và chi tiết. Do đó tính hiệu quả kinh doanh của mỗi mảng thường rất đơn giản, chúng ta lấy doanh thu của từng mảng trừ đi chi phí là ra lợi nhuận gộp của mỗi mảng đó

– Những công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất thường đi kèm với đó là kết quả kinh doanh từ cho vay ký quỹ cũng rất lớn. Tuy nhiên, rủi ro đối với hoạt động cho vay cũng tương đối lớn bởi nhiều công ty chứng khoán đẩy mạnh cho vay và quản lý lỏng lẻo đã gặp rủi ro nợ xấu và thua lỗ rất lớn trong các năm 2010-2014. Do đó, chúng ta cần tìm hiểu, thu thập các thông tin ngoài lề về hoạt động cho vay, danh mục cho vay, phương thức QTRR mà công ty chứng khoán đó đang làm

– Các công ty chứng khoán có tài khoản HTM lớn thường đi kèm với nợ vay rất lớn để phục vụ cho kinh doanh nguồn vốn, đây là các khoản gửi rất an toàn. Do đó không hẳn những công ty chứng khoán này có nợ vay cao hơn vốn chủ sở hữu nhiều mà có rủi ro cao hơn các công ty khác.

– Rủi ro lớn nhất đối với một công ty chứng khoán thường là rủi ro đến từ danh mục tự doanh lớn (FVTPL và AFS) nên khi đầu tư chúng ta luôn phải lưu ý theo sát các cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tự doanh của họ để tránh các rủi ro cổ phiếu giảm mạnh gây thua lỗ cho công ty chứng khoán

– Các công ty chứng khoán có mảng ngân hàng đầu tư mạnh thường sẽ có mảng thu xếp vốn hiệu quả và khách hàng tổ chức phát triển hơn.

Thứ ba đánh giá dòng tiền của công ty chứng khoán rất khác với các loại hình kinh doanh khác

– Đối với 1 doanh nghiệp phi tài chính thì dòng tiền ra và vào của công ty vô cùng quan trọng, còn đối với các công ty chứng khoán dòng tiền không có nhiều ý nghĩa so với chất lượng tài sản trong bảng cân đối kế toán và hiệu quả kinh doanh bền vững của từng mảng trong bảng báo cáo kết quả kinh doanh

– Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư thường rất nhỏ và có thể bỏ qua ngay do: 1.Công ty chứng khoán đầu tư rất ít vào tài sản cố định; 2. Nếu có đầu tư tài chính lớn thì với công ty chứng khoán đó thuộc hoạt động kinh doanh chứ không phải hoạt động đầu tư.

– Lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán âm nhiều năm liên tiếp không hẳn là xấu thậm chí còn rất tốt: ngoài việc phụ thuộc lãi lỗ kinh doanh thì vấn đề quan trọng nhất là nó phụ thuộc vào việc mở rộng kinh doanh của công ty. Nếu 1 công ty chứng khoản mở rộng đầu tư vào các tài sản tài chính thì dòng tiền kinh doanh luôn âm.

– Lưu chuyển hoạt động tài chính dương nhiều chưa chắc đã xấu thậm chí còn tốt nếu việc dương là do hoạt động kinh doanh mở rộng mạnh (ở Việt Nam các công ty chứng khoán lớn đều mở rộng không ngừng hàng năm)

– Tiền và tương đương tiền của các công ty chứng khoán không quan trọng bằng các tài sản tài chính của công ty chất lượng có tốt không, vì khác với các loại hình khác các tài sản tài chính rất dễ chuyển đổi thành tiền nếu có chất lượng tốt với chí phí chuyển đổi rất thấp. Do đó các công ty chứng khoán hiệu quả thường không dự trữ tiền mặt nhiều như các ngành khác.

Phương pháp định giá thường dùng với ngành chứng khoán

Do đặc thù là ngành có tính chất chu kỳ và phụ thuộc vào sự biến động của thị trường chứng khoán rất cao, ngoài ra đây là ngành tài chính (một ngành kinh doanh tiền). Chính vì thế người ta thường định giá theo phương pháp kết hợp giữa P/B và P/E

– Dùng P/E để định giá mảng kinh doanh môi giới, ngân hàng đầu tư

– Dùng P/B định giá cho mảng kinh doanh nguồn vốn, tự doanh, cho vay ký quỹ


- FVTPL: ghi nhận theo giá thị trường và được hạch toán là lợi nhuận đầu tư trong báo cáo KQKD.

- AFS: ghi nhận theo giá thị trường và hạch toán vào vốn chủ sở hữu trong khoản mục “ chênh lệch đánh giá lại tài sản theo giá trị hợp lý”.

Như vậy, các TSTC trong AFS nếu chưa chốt lời thì không hề đóng góp vào doanh thu trong quý đó, tuy nhiên nó lại là một khoản lợi nhuận tiềm tàng nếu doanh nghiệp có chủ ý chuyển các khoản đầu tư từ AFS sang FVTPL và ngược lại để điều tiết lợi nhuận. Với sự khác biệt này, việc xem xét mức độ hiệu quả từ tự doanh của 1 công ty không thể chỉ xem xét qua đóng góp vào doanh thu trên bảng kết quả kinh doanh mỗi quý mà cần phải xem xét cả các tài sản chưa chốt lời tồn tại ở danh mục AFS.


Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022

CASE STUDY ĐỌC BÁO CÁO TÀI CHÍNH

 1.  Năm 2015 PNJ báo lợi nhuận sau thuế là 156 tỉ , thấp hơn 2014 là 256 tỉ, nhưng PNJ bắt đầu 1 sóng tăng lớn từ đây. Nhiều người không biết thấy LN thấp mà bỏ qua thì sẽ bỏ lỡ mất con sóng này, lý do là nhìn báo cáo kết quả kinh doanh không ra, nhưng nhìn vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ta thấy có 1 khoản trích lập dự phòng lớn là 200 tỉ, dòng tiền 2015 dương so với 2014 âm, nhìn vào đây ta thấy thực sự 2015 làm ăn vẫn có lãi lớn so với 2014 chỉ là lãi được cắt bớt đi vào trích lập dự phòng, đó là lý do giá cổ phiếu vẫn tăng mạnh dù LNST thuế giảm

Chúng ta có thể phát hiện ra điều này bằng cách nhìn qua lưu chuyển tiền tệ, năm 2015 có dòng tiền dương so với 2014. dù LN thấp hơn


2. Case FRT 2021

FRT bắt đầu sóng tăng từ 07.2021 dù lợi nhuận sau thấp rất thấp. Rất nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp bỏ qua mã này vì chỉ nhìn vào Lợi nhuận của nó, nhưng FRT tăng mạnh, nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy, giai đoạn LN thấp, là do nó đang chịu lỗ cho mảng nhà thuốc Long Châu đang mở rộng, chứ mảng máy tính vẫn đang có lãi lớn

Vậy khi chuỗi Long châu mở xong, và có lợi nhuận, thì 2 mảng máy tính và Dược đều đem về LN lớn, là lý do khiên giá FRT tăng mạnh

Nếu chỉ nhìn vào LNST ta sẽ không biết được, mà phải đọc kỹ thuyết minh cho phần LN đó


3. Case HPG 2020


4. Case KBC 06.2022