Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2022

NHẬN DIỆN RỦI RO “GIAN LẬN BCTC” QUA HÀNG TỒN KHO VÀ KHOẢN PHẢI THU

Chỉ số dùng để nhận biết có dấu hiệu gian lận BCTC: Hàng tồn kho/giá vốn hàng bán.

Công thức tính: Hàng tồn kho ÷ giá vốn hàng bán

DN chỉ đáng tin cậy khi tỷ số trên:

Tỷ số < 150% đối với DN bán hàng trong nước;

Tỷ số < 200% đối với DN xuất khẩu.

Nếu tỷ số lớn hơn 2 mức trên thì khả năng cao có rủi ro phía trước.

-------------------

VÍ DỤ: TTF – NHẬN DIỆN RỦI RO ĐỂ NÉ TRÁNH TRƯỚC KHI XUẤT HIỆN SCANDAL NĂM 2016

Nhắc lại bối cảnh:

Trước khi cty kiểm toán EY vào kiểm toán BCTC 6 tháng đầu năm 2016 và nhận ra sự bất thường trong khoản mục hàng tồn kho.

Nhắc lại một chút về cú ngã của Gỗ Trường Thành, trong thuyết minh giá vốn 6 tháng đầu năm 2016 của TTF đột ngột xuất hiện khoản mục “Hàng tồn kho phát hiện thiếu khi kiểm kê” lên tới 980 tỷ đồng.

Phát hiện này đã dẫn đến việc điều chỉnh thẳng vào chi phí giá vốn quý 2/2016 của TTF khiến cho giá vốn trong 6 tháng đầu năm 2016 tăng vọt lên mức 1.690 tỷ đồng – cao gấp đôi doanh thu. Do đó, TTF lỗ gộp tới 807 tỷ đồng và lỗ ròng 1.073 tỷ đồng.

Hệ quả là giá cổ phiếu giảm liên tục mất thanh khoản 26 phiên liên tiếp.

----------------------

Vậy đâu là dấu hiệu giúp NĐT né tránh những cổ phiếu này?

Đương nhiên phải kết hợp nhiều yếu tố để thấy được toàn cảnh bức tranh tài chính lớn của DN bao gồm: Nợ vay, phải thu, hàng tồn kho, dòng tiền...

1 trong số đó là chỉ số HTK/giá vốn hàng bán (Như đã tính toán trên hình 2).

Từ giai đoạn 2014 HTK/giá vốn hàng bán của TTF luôn trên mức rủi ro rất cao, đối với 1 DN sản xuất thì hàng tồn kho tích trữ quá lớn so với bán hàng dễ dẫn tới việc:

(1) Thành phẩm bị hư hại hoặc lỗi thời;

(2) Tình hình bán hàng gặp nhiều khó khăn;

(3) Trong trường xấu nhất (như TTF) là những thủ thuật thổi phồng HTK nhằm những mục đích vì lợi ích riêng của giới chủ.

Khi nhìn vào con số lớn đáng báo động này chúng ta phải cảnh giác và phương án tốt nhất là tránh xa nếu không thực sự nắm rõ câu chuyện đằng sau.

Tuy nhiên, không phải đơn giản cho những NĐT đứng ngoài cuộc chơi mặc dù họ nhận biết được rủi ro. Vấn đề lớn nhất là lòng THAM, 1 cơn sóng tăng của TTF trước đó và những câu chuyện tăng trưởng được thổi phồng mọi nơi đã che đi những con số đáng nghi ngờ trên BCTC.

“Thành công trong đầu tư không tương quan với IQ … điều bạn cần là khí chất để kiểm soát những thôi thúc khiến người khác gặp rắc rối trong đầu tư.” – Warren Buffett




Nhận diện rủi ro “Gian lận BCTC” từ mục KHOẢN PHẢI THU

Phải thu là khoản DN đã cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng nhưng chưa thu lại được tiền để hoạch toán vào doanh thu.
--------------------
Chỉ số dùng để nhận biết có dấu hiệu gian lận BCTC và công thức tính:
PHẢI THU (phải thu ngắn hạn + phải thu dài hạn) ÷ DOANH THU
DN chỉ đáng tin cậy khi tỷ số trên:
Tỷ số < 50% đối với DN bán hàng trong nước;
Tỷ số < 100% đối với DN xuất khẩu. 
Nếu tỷ số lớn hơn 2 mức trên thì khả năng cao có rủi ro.
2 lý do thường dẫn tới khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản:
(i) Tài chính của khách hàng yếu kém;
(ii) Doanh nghiệp không có năng lực thương lượng, đàm phán cao vì vậy bị khách hàng chiếm dụng vốn lớn;
(iii) Cho vay bên thứ 3 (thường là “sân sau” của ban lãnh đạo).
----------------
VÍ DỤ: FLC
Trước khi rộ scandal bán chui cổ phiếu của Chủ Tịch tập đoàn FLC dẫn tới giá cổ phiếu lao dốc không phanh. Nhìn vào khoản phải thu/Doanh thu thuần giai đoạn trước đó đã đưa ra tín hiệu báo hiệu có sự rủi ro.
Chỉ số khoản phải thu/DTT luôn vượt ngưỡng cho phép, thậm chí đạt mức rất cao > 300% so với mức chấp nhận khoảng 50%. (HÌNH 1).
Đi sâu vào phân tích khoản phải thu của FLC (đọc thuyết minh BCTC – Lấy ví dụ BCTC hợp nhất 2020). Thì chúng ta nhận ra được điều bất thường khi mà các khoản phải thu tập trung chính vào việc “Cho vay các bên thứ 3”. (HÌNH 2, 3).
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao FLC mang tiền lớn đi cho thuê các bên thứ 3 thay vì tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh? Liệu ở đây có dấu hiệu “rút ruột” cổ đông hay không?
Để tìm lời giải cho 2 câu hỏi này chúng ta xem xét:
Xem địa chỉ, người pháp nhân đại diện, ngày thành lập. Để xem có liên quan gì trong nội bộ không và mục đích ở đây là do chủ quan hay khách quan.
Ví dụ: Khoản cho vay của FLC liên quan tới CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHÚC THỊNH. Search trên google thì ra được địa chỉ và pháp nhân đại diện đều liên quan tới tập đoàn FLC
=> Cho vay bên liên quan, cổ đông nhỏ lẻ dễ bi thiệt hại từ những hoạt động này (HÌNH 4).






0 comments:

Đăng nhận xét