• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2025

Nghịch lý cung tiền, tỷ giá và giá bất động sản

 Nền kinh tế Việt Nam có những nghịch lý so với các quốc gia trong khu vực, mà chúng ta luôn quan sát thấy trong nhiều thập niên qua, đó là giá bất động sản gần như luôn trong xu hướng tăng, trong khi tỷ giá cũng chỉ có một chiều biến động đi lên. Những nghịch lý đó khiến cho việc điều hành nền kinh tế sẽ luôn có những đặc thù nhất định trong cách thức điều hành.

Trong nhiều năm qua, nền kinh tế Việt Nam tồn tại nhiều hiện tượng không tuân theo các quy luật kinh tế học thông thường, đến mức nhiều người xem đó là những điều hiển nhiên. Một trong những điểm đáng chú ý nhất là giá bất động sản liên tục tăng bất chấp, thậm chí ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất khi thanh khoản giao dịch sụt giảm nghiêm trọng. Đồng thời, tỷ giá VND/USD hầu như chỉ có xu hướng mất giá liên tục trong suốt hai thập kỷ qua, trái ngược với xu hướng biến động ở cả hai chiều của nhiều đồng tiền trong khu vực Đông Nam Á.

Một nền kinh tế khi vận hành theo quy luật thông thường, tăng trưởng cung tiền thường có mối quan hệ mật thiết với tăng trưởng GDP, sự gia tăng cung tiền có thể thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư, từ đó hỗ trợ kinh tế tăng trưởng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, sự tương quan này lại không diễn ra theo quy luật chung. Một lượng lớn cung tiền không thực sự chảy vào khu vực sản xuất mà chủ yếu được phân bổ vào thị trường bất động sản và các doanh nghiệp yếu kém, dẫn đến sự suy giảm của vòng quay tiền trong nền kinh tế. Hệ quả là dòng vốn bị sử dụng kém hiệu quả, không tạo ra tăng trưởng bền vững, đồng thời gây áp lực lên tỷ giá và làm suy giảm sức cạnh tranh của đồng nội tệ.

Tăng trưởng cung tiền cao nhưng không tạo ra giá trị GDP tương ứng

Theo số liệu từ biểu đồ 1 cho thấy tăng trưởng cung tiền (M2) tăng trung bình 13-15%/năm trong gần một thập kỷ qua, trong khi GDP thực tế chỉ tăng 10-11%. Chênh lệch này phản ánh vấn đề nghiêm trọng khi phần lớn lượng tiền bơm vào nền kinh tế không được phân bổ hiệu quả để thúc đẩy hoạt động sản xuất thực. Thay vì hỗ trợ tăng trưởng thực, dòng vốn chủ yếu chảy vào các tài sản tài chính như các giao dịch bất động sản thứ cấp, chứng khoán hoặc các khoản vay tái tài trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả.

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự mất cân đối giữa cung tiền và tăng trưởng GDP tại Việt Nam là sự phân bổ tín dụng còn tập trung nhiều vào lĩnh vực bất động sản thay vì khu vực sản xuất. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến cuối 2024, dư nợ tín dụng bất động sản đã lên tới 3.15 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, vẫn còn nhiều ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản ở mức cao. Việc dòng vốn tín dụng tập trung quá mức vào lĩnh vực này không chỉ làm suy giảm hiệu suất sử dụng vốn mà còn hạn chế nguồn lực dành cho sản xuất, đổi mới công nghệ và các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.

Ngoài ra, dòng vốn tín dụng đổ mạnh vào bất động sản trong những năm qua đã đẩy giá nhà đất liên tục leo thang, bất chấp những khó khăn kinh tế và sự sụt giảm trong nhu cầu thực. Giai đoạn 2019-2024, giá bất động sản tại Việt Nam đã tăng trung bình 59% sau 5 năm, tương đương mức tăng trung bình 9.7% mỗi năm, một số khu vực giá đất tăng bằng lần là chuyện bình thường. Trong khi đó, thu nhập bình quân của người dân không theo kịp tốc độ này, khiến khoảng cách giữa giá nhà và thu nhập ngày càng nới rộng, chạm mức gần 24 lần vào năm 2024, cao hơn đáng kể so với các quốc gia trong khu vực. Hệ quả là người lao động ngày càng khó tiếp cận nhà ở.



Vòng quay tiền (Velocity of Money) là chỉ số phản ánh tốc độ lưu thông của tiền trong nền kinh tế. Tại Việt Nam, chỉ số này đã suy giảm liên tục trong suốt 10 năm qua, cho thấy dòng tiền chủ yếu bị "chôn" trong các tài sản tài chính thay vì được tái đầu tư vào sản xuất và tiêu dùng. Nguyên nhân có thể xuất phát từ chính sách tiền tệ mở rộng nhưng thiếu sự kiểm soát chặt chẽ trong việc phân bổ tín dụng, dẫn đến tình trạng dòng vốn chảy mạnh vào các kênh đầu cơ thay vì hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thực chất. Sự suy giảm của vòng quay tiền phản ánh tình trạng dòng vốn chảy mạnh trong tài sản tài chính làm trầm trọng thêm vấn đề của nền kinh tế, điển hình là sự gia tăng của các doanh nghiệp "zombie". Đây là những công ty hoạt động kém hiệu quả, không có khả năng sinh lời nhưng vẫn duy trì sự tồn tại nhờ vào nguồn tín dụng giá rẻ. Tình trạng này đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực bất động sản và các ngành công nghiệp kinh doanh kém hiệu quả.

Trái ngược với tình trạng này, nhiều nền kinh tế trong khu vực có vòng quay tiền cao hơn đáng kể nhờ dòng vốn được luân chuyển hiệu quả trong sản xuất, giúp thúc đẩy tăng trưởng GDP. Chẳng hạn, tại Thái Lan và Indonesia, tín dụng chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất và xuất khẩu thay vì chảy vào đầu cơ tài sản. Chính sự phân bổ hợp lý này đã hướng dòng vốn chảy vào các hoạt động kinh tế thực, thúc đẩy sản xuất và hỗ trợ kinh tế tăng trưởng bền vững.

Tác động của cung tiền cao và dai dẳng lên tỷ giá

Trong hai thập kỷ qua, tiền đồng liên tục mất giá so với đồng USD, trái ngược với xu hướng biến động hai chiều của các đồng tiền trong khu vực như Baht Thái Lan (THB), Rupiah Indonesia (IDR) hay Ringgit Malaysia (MYR). Các nền kinh tế này đã có những giai đoạn đồng nội tệ mạnh lên nhờ dòng vốn đầu tư nước ngoài và sự tăng trưởng tích cực trong xuất khẩu. Trong khi đó, VND lại đi theo xu hướng mất giá kéo dài, chủ yếu do tốc độ tăng trưởng cung tiền cao và duy trì trong thời gian dài, tạo áp lực liên tục lên giá trị tiền đồng.

Diễn biến tỷ giá VND/USD trong từng giai đoạn phản ánh rõ xu hướng này. Trong giai đoạn 2000-2010, cung tiền M2 tăng trung bình 25-30% mỗi năm, dẫn đến việc VND mất giá từ 14,000 VND/USD lên khoảng 19,500 VND/USD, tương đương mức mất giá gần 40%. Cùng với đó, lạm phát gia tăng mạnh, đặc biệt trong giai đoạn 2008-2011 khi chỉ số lạm phát vượt 20%, tạo áp lực lớn lên nền kinh tế.

Sang giai đoạn 2011-2021, NHNN thực hiện chính sách kiểm soát cung tiền chặt chẽ hơn, duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức 12-14% mỗi năm, cùng duy trì cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt. Nhờ đó, tỷ giá VND/USD trở nên ổn định hơn, chỉ mất giá khoảng 5-7% trong suốt cả giai đoạn. Chính sách này góp phần quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát, giúp giữ mức giá cả ổn định và củng cố niềm tin của thị trường.

Tuy nhiên, từ năm 2022 đến 2024, khi Chính phủ duy trì CSTT nới lỏng và lãi suất được giữ ở mức thấp. Việc mở rộng cung tiền nhằm hỗ trợ nền kinh tế đã dẫn đến hệ quả tất yếu là VND tiếp tục mất giá, từ mức khoảng 22,500 VND/USD vào năm 2022 lên gần 25,500 VND/USD vào cuối năm 2024. Mặc dù nền kinh tế Mỹ đã có mức lạm phát cao nhất trong nhiều năm qua nhưng tiền đồng cũng tiếp tục đi vào xu hướng mất giá. Lượng cung tiền luôn thặng dư trong nền kinh tế so với khả năng hấp thụ đã khiến cho tiền đồng luôn trong một áp lực giảm giá lớn.

Nếu so sánh trong cùng giai đoạn thì các đồng tiền trong khu vực như Baht Thái Lan (THB), Rupiah Indonesia (IDR) và Ringgit Malaysia (MYR) có những giai đoạn phục hồi nhờ chính sách điều hành linh hoạt, thì VND lại liên tục mất giá mà không trải qua chu kỳ hồi phục đáng kể. Đồng Baht Thái Lan ghi nhận xu hướng tăng giá trong giai đoạn 2015-2019 nhờ vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dồi dào và mức dự trữ ngoại hối ổn định. Tương tự, đồng Rupiah Indonesia cũng có những thời kỳ tăng giá khi Ngân hàng Trung ương nước này kiểm soát cung tiền một cách hiệu quả, giúp cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định tài chính.

Một nền kinh tế phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng trong việc gia tăng lượng cung tiền đã tạo ra những nghịch lý dai dẳng, khiến khả năng hấp thụ tiền của nền kinh tế sụt giảm rất nhiều tạo ra những rủi ro khi giúp cho giá bất động sản duy trì ở mức cao, từ đó lại thu hút các nguồn lực của xã hội vào các lĩnh vực phi sản xuất. Vòng xoáy đó khiến nền kinh tế mất nhiều lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia trong khu vực. Do đó, việc đánh giá lại về tính hiệu quả của các dòng chảy tín dụng là yếu tố then chốt giúp nền kinh tế và hệ thống tài chính có thể phát triển một cách bền vững.

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2025

Đầu tư cổ phiếu là hành trình cô độc

 Khi các nhà đầu tư tuân theo triết lý đầu tư phù hợp, các cổ phiếu rác cũng có thể sinh lời. Người không tuân theo các nguyên tắc đầu tư cổ phiếu, ngay cả những cổ phiếu tốt cũng không hiệu quả.

Trong việc đầu tư cổ phiếu, khó tìm được người đồng hành

Càng lớn, góc nhìn về tình bạn càng thay đổi, không còn cái khao khát như ở tuổi 20 nữa.

Lúc còn thiếu niên, đi dạo với dăm ba người bạn, không thì cùng nhau chèo thuyền ra hồ, cảm thấy sống như vậy không còn gì nuối tiếc. Thế nhưng, càng lớn tuổi, bạn bè càng ít đi, ta càng cảm thấy cô độc.

Vấn đề này không phải của riêng ai. Dù là nam hay nữ, bạn bè luôn là phần bị khuyết thiếu.

Người với người trở thành bạn với nhau, chủ yếu dựa trên hai nền tảng: thứ nhất là tư tưởng giống nhau, thứ hai là cùng chung sở thích.

Những người trẻ tuổi sẽ cùng chia sẻ rất nhiều suy nghĩ với nhau. Ai cũng đều hướng tới tương lai; càng nhiều bạn thì càng nhiều người giúp mình hiểu bản thân hơn và định hướng cho tương lai. Vì thế, ai cũng sẵn sàng kết bạn.

Tuy nhiên, theo thời gian, mỗi người sẽ dần nhận ra, những suy nghĩ ban đầu nghĩ là giống nhau, nhưng thực tế có sự khác biệt và chia rẽ rất lớn. Tìm được người tri kỷ rất khó, lại không có lợi ích chung nên càng khó tìm bạn.

Trong việc đầu tư cổ phiếu, lại càng khó tìm được người đồng hành.

Những người tham gia đầu tư, ngay cả bạn bè trên danh nghĩa cũng ít hơn những người khác. Điều này là do những đặc thù trong ngành chứng khoán.

Vẫn dựa trên hai nền tảng của tình bạn để phân tích: thứ nhất là tư tưởng, thứ hai là sở thích.

Không phải nhà đầu tư chứng khoán nào cũng có quan điểm giống nhau. Ngay cả khi mua cùng một loại cổ phiếu, tư duy và hiểu biết của họ cũng có sự khác biệt.

Một số người theo quan điểm kỹ thuật là chính, nhìn vào biểu đồ để chọn mua. Một số dựa trên các nguyên tắc cơ bản. Một số là ngắn hạn, một số ở mức trung hạn, và một số mua trong dài hạn...

Do đó, ngay cả khi mua cùng một loại cổ phiếu, tư tưởng mỗi người lại một khác. Khi thị trường biến động, phản ứng mỗi người sẽ hoàn toàn khác nhau. Đó chỉ là xét trong trường hợp mua cổ phiếu giống nhau, trên thực tế, rất hiếm khi có người mua cổ phiếu giống nhau.

Mọi người chỉ nhìn thấy khoảnh khắc một nhà đầu tư phát tài chỉ sau một đêm. Hiếm có ai biết rằng trước khoảnh khắc đó là một thời kỳ tích lũy dài dặc đặc, có khi đến cả chục năm. Việc tích lũy kinh nghiệm này mỗi người có một trải nghiệm riêng, rất khó để có thể truyền thụ.


Đầu tư cổ phiếu là một kiểu tu hành

Thứ nhất, bạn có thể theo dõi thị trường hàng ngày và ngắn hạn trong 1 tuần hoặc 1 tháng, thậm chí lâu hơn không? Đây là trở ngại đầu tiên, rất khó để vượt qua.

Bình tĩnh là một kỹ năng cao cấp, cũng là việc khó khăn nhất. Bình tĩnh là điều kiện tiên quyết để kiếm tiền lớn. Bình tĩnh cũng là cách tốt nhất để tránh tụt dốc cùng thị trường.

Đừng sợ tuột mất cơ hội, vì tiền trên thị trường chứng khoán là vô tận, nghỉ ngơi đúng lúc là biểu hiện của tâm tình. Không thể bình tĩnh, cũng không thể nghỉ ngơi, bạn sẽ không thể làm việc.

Thứ hai, cổ phiếu khác tăng mạnh nhưng cổ phiếu trong tay bạn lại giảm, bạn có cảm thấy thất vọng không? Nếu bạn cảm thấy rất thất vọng, bạn có muốn đổi cổ phiếu không? Ngược lại, các cổ phiếu khác giảm mạnh nhưng cổ phiếu của bạn lại tăng, bạn có đắc ý quên hết tất cả không?

Nếu bạn có cả hai, điều đó có nghĩa là tâm lý của bạn đang rất nóng nảy, và bạn phải vượt qua được rào cản này. Thắng không kiêu, bại không nản. Lúc vui nghĩ đến tình huống xấu, lúc gặp nghịch cảnh vẫn giữ được hi vọng. Đó chính là bản lĩnh.

Chúng khoán cổ phiếu đều có từng giai đoạn thời gian, có lên có xuống. Dữ liệu từ trước đến nay cho chúng ta biết rằng sau một chu kì lớn của thị trường, hầu hết các cổ phiếu sẽ tăng cùng một mức (ngoại trừ cho một vài cổ phiếu đặc biệt). Do đó, chỉ cần bạn kiên nhẫn là sẽ có cơ hội.

Thứ ba, cổ phiếu đã giảm chạm sàn, bạn cảm thấy như thế nào? Khi cổ phiếu giảm giá, bạn có kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trở lại không?

Nếu bạn có tất cả những điều này, thì bạn vẫn còn một chặng đường dài phía trước, và rào cản thứ ba này cũng là rào cản lớn nhất mà hầu hết các nhà đầu tư đều khó có thể vượt qua. Các nhà đầu tư lớn sẽ không bao giờ để tình trạng như vậy xảy ra; họ sẽ rời đi ngay.

Cuộc chơi trên thị trường chứng khoán có rất nhiều chướng ngại vật, không thể chinh phục chỉ bằng một chút kỹ thuật. Bạn phải chinh phục được bản thân mình trước đã. Muốn chinh phục được bản thân, không phải chỉ dựa vào kiến ​​thức mà quan trọng hơn là bạn phải bình tĩnh và biết kiểm soát bản thân.

Trên thực tế, giao dịch chứng khoán cũng là một hình thức tu luyện, và chỉ khi bạn có thể chịu đựng được sự cô đơn, thì ta mới có thể đạt được một kết quả khả quan.

Lòng tham là nấm mồ của đầu tư

Lòng tham, chính là mẹ của thất bại.

Người xưa có câu: "Thiên hạ thái bình, nuôi ngựa để lấy phân; thiên hạ loạn lạc, ngựa phải ra chiến trường". Họa lớn đến là do ta không biết đủ. Biết dừng lại đúng lúc mới là kẻ đại trí.

Khi các nhà đầu tư tuân theo triết lý đầu tư phù hợp, các cổ phiếu rác cũng có thể sinh lời. Người không tuân theo các nguyên tắc đầu tư cổ phiếu, ngay cả những cổ phiếu tốt cũng không hiệu quả.

Lỗi lớn nhất khi đầu tư chính là quá tham. Chỉ cần biết dừng lại, biết đủ thì đã là một thành công. Kẻ tham lam không bao giờ kiếm được tiền.

Tham gia đầu tư chứng khoán không giới hạn độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm, gia đình, xuất thân,... Thế nhưng, số liệu thống kê cho thấy những người không có chính kiến, do dự khi đưa ra quyết định, những người thích tụ tập và những người dễ xúc động thường thua lỗ giao dịch cổ phiếu.

Ngược lại, những nhà đầu tư thành công thường giỏi phân tích và tư duy, có cá tính mạnh và thích một mình. Khi hành động, họ còn phải can đảm, dám thừa nhận thất bại.

Về thực tế, hầu hết các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán do chịu tác động từ người khác. Họ thường mua cổ phiếu một cách bốc đồng và mù quáng, tính toán đầy cảm tính và đơn giản.

Cơ sở duy nhất để những nhà đầu tư này đưa ra quyết định là xem hoặc nghe báo cáo và các phương tiện truyền thông khác để phân tích xu hướng thị trường, không hề có nguồn thông tin nào chuyên sâu để tự mình phán đoán xu hướng.

Về kỹ thuật, họ không chú ý, thậm chí không tiến hành phân tích và nghiên cứu về chất lượng của từng cổ phiếu, triển vọng và những thay đổi trong mối quan hệ giữa giá và số lượng. Thay vào đó, họ chọn cổ phiếu thông qua tin đồn, chỉ cần 1 chút nhiễu động là đã xao động. Những nhà đầu tư kiểu này rất dễ thất bại.

Hiểu bản thân mới là con đường thành công lâu dài

Khi nhà đầu tư khó quyết định mình sẽ làm gì, cảm xúc và động lực của họ sẽ đóng một vai trò quan trọng. Thuyết phân tâm học của Sigmund Freud sử dụng khái niệm tiềm thức để làm rõ ảnh hưởng của những cảm xúc và động cơ phi lý trí tiềm ẩn đối với hành vi. Điều quan trọng nhất trong đầu tư cổ phiếu là ra quyết định: mua gì, bán gì, mua khi nào, bán khi nào và giá bao nhiêu.

Trong một cuộc họp sàn giao dịch chứng khoán, một chuyên gia đưa ra phương pháp giao dịch có thể thu về gấp 5 lần khoản đầu tư trong thời gian ngắn. Mọi người đều vô cùng thích thú, thậm chí còn ngưỡng mộ, cảm thấy khó mà cỏ thể đạt trình độ đó vậy.

Lúc này, một cá nhân đột nhiên lên tiếng: "1 năm làm được gấp 5 lần thì cũng bình thường, 5 năm làm được gấp đôi mới hiếm gặp". Tuy nhiên, không ai quan tâm đến những lời trên.

Người này còn về viết hẳn một bài dài, trình bày vô cùng rõ ràng, cụ thể và khách quan, nhằm giải thích ý kiến của mình. Anh chia sẻ vào nhóm, nhưng đáng buồn là ai nấy đều bỏ qua, chỉ tập trung thảo luận về cách đạt lợi nhuận khổng lồ trong thời gian ngắn.

Không rõ người đàn ông này cảm thấy ra sao, nhưng rõ ràng anh ta là một người cô độc vô cùng. Khi ta muốn nghiêm túc giải thích quan điểm của mình, chẳng một ai muốn lắng nghe cả. Đến lúc này, ta mới hiểu thực sự cô đơn là gì.

Tại sao nhiều nhà đầu tư hàng đầu thường không nói nhiều về chi tiết giao dịch cụ thể? Tại sao họ lại hay nói về ý tưởng, cảnh giới và những điều vĩ mô?

Có lẽ, họ đã không còn muốn bày tỏ ý kiến cụ thể của mình nữa.

Các nhà đầu tư hàng đầu cảm thấy cô đơn, bởi lẽ chẳng ai biết họ đã từng trải qua hành trình tinh thần nào, rèn luyện vào sinh ra tử ra sao, từ đâu để hình thành phong cách giao dịch như ngày nay.

Giao dịch đầu tư chính là một quá trình định hình lại bản thân. Trải qua khó khăn, nắm rõ vẻ ngoài, nhìn thấu bản chất, hiểu được quy luật cảm xúc của chính mình. Từ đó, bạn sẽ tích hợp tất cả kinh nghiệm vào triết lý giao dịch của riêng mình, tạo ra hệ thống giao dịch độc đáo chỉ bản thân mới có.

Khi ở một mình, con người được tự do suy nghĩ. Vì thế, người đời vẫn hay nói rằng cô đơn là cảnh giới cao nhất của tư tưởng và cuộc sống. Những nhà đầu tư cô đơn thường suy nghĩ độc lập và hình thành thế giới của riêng mình. Bởi lẽ, họ biết thế giới trong tâm trí mới là rộng lớn nhất, và ở nơi đó, họ có thể đối diện với chính mình một cách chân thật nhất.

**********************

Trong cuộc chiến chứng khoán khốc liệt, các nhà đầu tư thực hiện nhiều giao dịch mỗi ngày, lỗ hay lãi, thắng hay bại đều là chuyện thường tình. Làm thế nào để kiểm soát cảm xúc của bản thân, duy trì cái đầu lạnh là một việc tuy khó, nhưng rất quan trọng với họ.

Ngay cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp nhất cũng chỉ là một con người bình thường, cũng khó tránh khỏi những dao động về cảm xúc và mong muốn. Nếu không biết kiềm chế, ta sẽ bức xúc và bực bội mỗi khi mất tiền.

Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu. Người thực sự ở đẳng cấp cao thường điềm tĩnh và khiêm tốn, thay vì nói không ngừng và chỉ biết khoa trương.