• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

GAP - Lưu ý quan trọng

 Gap là một vùng trống không giao dịch của cổ phiếu, GAP xảy ra do một số lượng lớn lệnh nhất định được gửi vào thị trường, tuy nhiên không có đủ nguồn cung cấp cho lượng lệnh đối ứng, vì vậy giá cổ phiếu nhảy lên, hoặc giảm xuống một mức giá mới, nơi ở đó có đủ lệnh đối ứng. Tại vùng mở GAP, nơi  không có giao dịch đối ứng trên đồ thị sẽ hiển thị một vùng trống giá không hoạt động, thường sẽ được lấp lại sau quá trình tăng lên hoặc giảm xuống của cổ phiếu.

I.    Phân loại GAP

- Với đặc tính thay đổi giá, GAP chia làm hai loại: GAP TĂNG - GAP GIẢM (UP DOWN)

- Với đặc tính sức mạnh, GAP chia làm hai loại: GAP SỨC MẠNH – GAP ĐIỂM YẾU.

►    Xu hướng thị trường có khả năng quay về lấp GAP rất cao. Nhưng vẫn có trường hợp không lấp.

Hiểu và vận dụng GAP trong đầu tư là rất quan trọng. Đôi khi GAP tăng là tốt, hoặc GAP giảm là tốt và ngược lại. Trong bài biết này chúng ta sẽ đi từng trường hợp cụ thế để phân tích rõ ràng về đặc điểm và cách xác nhận các loại GAP.

1.    GAP tăng: (GAP UP)

Giá cổ phiếu được đẩy lên một mốc giá cao hơn và vùng trống giao dịch ở giữa. Có thể chia GAP tăng thành 2 loại: Gap tăng sức mạnh và Gap tăng điểm yếu


•    Gap tăng điểm yếu: Thường là loại GAP tăng không tốt, nó thể hiện sự tăng giá đơn giản chỉ vì sự fomo bởi cầu nhỏ lẻ đẩy giá ngay đầu phiên bằng tin tức & thông tin đột biến từ doanh nghiệp, hoặc quán tính tăng từ đà tăng giá ngày hôm trước. Gap tăng điểm yếu chúng sẽ thường lấp lại và thường cảnh báo cho sự rủi ro hơn là cơ hội. Có 2 dạng thường thấy: Gap ngẫu nhiên trong đà tăng giá và Gap kiệt sức ở vùng đỉnh. 

o    Nguyên ngân: GAP tăng mở ra mà do nhỏ lẻ đẩy lệnh hoặc fomo, thì có khả năng Gap sẽ lấp lại bởi các lệnh bán xuống mà không có sự đỡ giá, vì tổ chức họ chưa muốn xảy ra nhu cầu này, quá trình tăng giá chỉ diễn ra khi gap được lấp và rũ nguồn cung nhỏ lẻ của cổ phiếu.



•    Gap tăng sức mạnh: Thường là loại Gap tăng không phổ biến, xuất hiện với tần suất ít hơn. Gap up này thường thì cổ phiếu bật tăng từ điểm pocket pivot, hoặc nền tích lũy, hoặc khu vực có vùng nhà đầu tư kẹp hàng, điểm kháng cự mạnh của cổ phiếu… Gap tăng sức mạnh ít có khả năng lấp lại trong trung hạn. Đây thường là dấu hiệu của cơ hội để tạo đà tăng giá mới của cổ phiếu.

o    Nguyên nhân: GAP up mở ra do các nhà đầu tư tổ chức chủ động đẩy lệnh (trường hợp này là gap sức mạnh) để giữ các nhà đầu tư không có tâm lý bán ra cổ phiếu ở vùng kháng cự cũ. Hoặc chủ động xác nhận cho một đà tăng giá mới! Có nghĩa là tạo tâm lý có lời ngay lập tức để giữ các nhà đầu tư không bán ra nhằm làm giảm lượng cung của thị trường, xác nhận xu thế giá mới và mua lại hết nguồn cung đó.


•    SỰ XÁC NHẬN: Gap tăng sức mạnh khác với điểm yếu ở một vài đặc điểm. 

Đối với Gap tăng điểm yếu, thường ở vùng giá bất kì trong hành vi giá, thì cổ phiếu có xu hướng sẽ lấp lại gap nếu volume có xu hướng giảm dần trong phiên đó hoặc các phiên sau. Gap tăng điểm yếu còn có thể báo hiệu cho dấu hiệu cho sự đảo chiều vùng đỉnh sau một đà tăng giá mạnh của cổ phiếu, tuy nhiên Gap tăng mạnh vùng đỉnh có thể có volume lớn vì sự phân phối hàng giữ tổ chức & nhỏ lẻ. Còn đối với Gap tăng sức mạnh – thường volume các phiên này là volume đột biến và tạo xu hướng mới sau đà tích luỹ. Volume  lớn thể hiện sự mua lại nguồn cung hàng của cổ phiếu sau quá trình tích luỹ để xác nhận xu hướng tăng giá mới.



2.    GAP giảm: (GAP DOWN)

Giá cổ phiếu đột ngột giảm xuống một mức giá thấp hơn và xuất hiện vùng trống giao dịch ở giữa. Có thể chia GAP giảm thành 2 loại: Gap giảm sức mạnh và Gap giảm điểm yếu. Gap giảm có vùng trông giao dịch ở phía trên. Gap giảm thường xảy ra ở thời điểm thị trường yếu hoặc cổ phiếu bị bán tháo liên tục và tới ngưỡng phục hồi.


•    Gap giảm sức mạnh: nó cũng xuất hiện trong quá trình đi xuống của giá, và giá có xu hướng sẽ lấp lại gap này bằng nhịp tăng ngắn hạn (phục hồi kĩ thuật) hoặc đảo chiều vùng đáy. Thường Gap giảm sức mạnh nó lại là cơ hội, vì xu hướng giá có khả năng đi lên hoặc đảo chiều nếu giá đang ở vùng đáy.

o    Đặc biệt: Gap giảm sức mạnh thường cho thấy có volume lớn, nếu đảo chiều vùng đáy thì lại càng có volume lớn càng tin cậy. Gap giảm sức mạnh tạo cơ hội cho việc thoát hàng ra khỏi cổ phiếu nếu cổ phiếu vẫn còn xu hướng giảm, hoặc cơ hội mua khi cổ phiếu đảo chiều từ vùng đáy. Nhưng nếu chỉ đơn giản là nhịp hồi kĩ thuật, volume của gap giảm sức mạnh thường giảm dần, cho thấy sự thiếu động lực mua. (Thường Gap giảm sức mạnh xảy ra với VNINDEX khá nhiều)



•    Gap giảm điểm yếu: xuất hiện ít hơn, thường là sau một xu hướng tăng dài của cổ phiếu hoặc đang trong vùng tích luỹ và giá đột ngột giảm xuống khỏi mức hỗ trợ, nền tích luỹ, cho thấy sự đảo chiều hoặc ngưỡng phục hồi mạnh sau đà giảm. Gap loại này thường sẽ có volume lớn đột biến.


3.    TỔNG KẾT

•    Không có cổ phiếu nào tăng mãi, cũng không có cổ phiếu nào giảm mãi, sẽ có những nhịp hồi phục và tạo gap liên tục. Đánh giá và sử dụng GAP là cách nhận diện cơ hội hoặc rủi ro một cách hiệu quả. Thường Gap sẽ thuần thục khi bạn giao dịch nhiều và để ý sự vận động của các Gap xuất hiện trên thị trường.

Ví dụ thực tế: (bài này mình có viết một lần trên tài khoản Nhật ký Chứng khoán VSA Official – có đề cập đến ví dụ này trong chính ngày hôm đó) 

Sáng nay, mình có để ý thấy 2 mã mở GAP Down.

1.    GEX: mở gap down ngay từ phiên sáng. Với kinh nghiệm cá nhân, ae không nên đua lệnh bán với cổ phiếu như vậy. Khả năng ngắn hạn hoặc trung hạn cổ phiếu sẽ lấp lại vùng gap này khi thị trường ổn định hoặc ngay trong phiên. - Nếu lấp ngay trong phiên mà thị trường xấu cổ phiếu có khả năng vẫn giảm tiếp. Nhưng nếu không lấp, hoẵc bật tăng trở lại, có thể đây là đáy phục hồi của cổ phiếu để tạo mẫu hình tích lũy tiếp theo.


2. APG: Mở gap up trong lúc thị trường xấu. Với kinh nghiệm cá nhân thì khả năng lấp gap là rất cao, anh em ko nên đua lệnh mua cổ phiếu khi mở gap kiểu này. Mình tin là có nhiều người sẽ kẹp cổ phiếu này lúc sáng. Không đánh giá là cổ phiếu có lên nữa hay không. Nhưng nếu muốn mua, hãy mua ở giá lấp gap. Cổ phiếu sẽ quay về lấp gap nếu thị trường yếu, còn thị trường mạnh hoặc tạo trend sóng ngành, có thể không cần lấp gáp.

Một vài case mình mua trọn từ đáy lên đỉnh cổ phiếu:

•    Điển hình DIG.


- Ở phiên này 4/8/2021. Mình đánh giá vùng 27 là vùng kháng cự mạnh của DIG hiện tại, mở đầu phiên DIG mở gap tăng, với số lượng lệnh lớn nhiều, thanh khoản bắt đầu gia tăng hơn trung bình. Mình đánh giá đây là GAP UP sức mạnh. Mình tham gia ngay khi cổ phiếu tăng ở mức 2-3%. Và sau đó ăn trọn đến vùng giá 35 thì mình chốt lời.

- Tiếp tục quãng thời gian sau khi DIG tích lũy mẫu hình cờ BULL FLAg, mình quan sát thấy ngày 6/10 Dig tiếp tục mở GAP up với mức giá break đường trendline. Đợt này thì mình khá chắn chắn DIG sẽ chạy nhưng do đang nắm dòng chứng khoán nên mình không để ý. Và nhịp 2 DIG chạy một mạch đến thời điểm hiện tại.

- Việc đánh giá GAP sức mạnh hay GAP điểm yếu nó là kinh nghiệm mn quan sát nhiều hành động giá của cổ phiếu. Việc mở GAP nếu liên quan đến tổ chức hoặc đội lái thì GAP này có thể là GAP sức mạnh. Còn nếu việc mở GAP mà do nhỏ lẻ fomo tạo cầu hoặc cung bán xuống thì khả năng lấp gap là rất cao.
Hiểu và thực hành sử dụng GAP nó là một kĩ năng mn nên thuần thục. Để tránh trường hợp bán non, hoặc lỡ đà chạy của sóng.

Ngoài ra còn rất nhiều case các bạn có thể tham khảo, và Fireant cung cấp trong bộ lọc Amibroker 2 bộ lọc về Gap tăng và Gap giảm trong phiên – bạn hoàn toàn có thể sử dụng để scan ra các điểm mua Gap up break từ vùng tích luỹ.

•    Đừng sợ GAP - đánh giá, quan sát, sử dụng GAP là một kĩ năng vô cùng quan trọng.

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

BCTC công ty chứng khoán

 Các điểm cần chú ý khi xem báo cáo tài chính của ngành chứng khoán

Ngành chứng khoán nói riêng và tài chính nói chung có những đặc thù riêng có nên không thể áp dụng các phương pháp phân tích đánh giá báo cáo tài chính như các đối tượng doanh nghiệp khác. Đối với ngành này, điều quan trọng nhất là xem xét doanh nghiệp mục tiêu có thể mạnh và chiến lược kinh doanh thuộc những mảng nào để chúng ta chú trọng vào phân tich chi tiết thế mạnh đó:

Thứ nhất theo quy định có hiệu lực từ đầu năm 2017 Công ty chứng khoán có 3 loại tài sản tài chính (TSTC) là: FVTPL, AFS và HTM.

– HTM chủ yếu là tiền gửi ngân hàng (ở mốt số công ty có khoản mục này rất lớn như SSI, VND là do họ có nghiệp vụ kinh doanh nguồn vốn hưởng chênh lãi suất) nên không liên quan đến việc ghi nhận lãi không thường xuyên từ danh mục tự doanh. Còn lại là FVTPL và AFS.

– Tài sản tài chính ghi nhận qua lãi lỗ (FVTPL) – theo quy định mới, TSTC FVTPL sẽ được hạch toán theo giá thị trường thay vì giá vốn điều chỉnh cho các khoản lỗ chưa thực hiện từ 2016 trở về trước. Theo đó các khoản lãi chưa thực hiện nhờ thị giá cao hơn giá vốn sẽ được ghi nhận cho dù chứng khoán đã được bán hay chưa và thị giá vào ngày cuối quý trước sẽ được lấy làm giá để tính lỗ/lãi chưa thực hiện cho quý tiếp theo.

– Tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS): lãi/ lỗ chưa thực hiện sẽ không hạch toán trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh. Lỗ chưa thực hiện sẽ đi vào bảng có tên “báo cáo thu nhập toàn diện khác”. Sau đó được ghi nhận trực tiếp vào mục “đánh giá lại tài sản” trong phần vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Lãi chưa thực hiện (thị giá cao hơn giá vốn) sẽ không được ghi nhận vào lợi nhuận. Đến khi chứng khoán được bán thì khoản lãi này mới được ghi nhận vào lợi nhuận trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh.

– Việc phân loại TSTC FVTPL và AFS có thể gây khó hiểu cho nhà đầu tư do các công ty chứng khoán được phép phân loại TSTC là FVTPL hay AFS theo mong muốn chủ quan của họ. Do vậy các công ty chứng khoán sẽ có chính sách riêng khi phân loại các TSTC này.

Thứ hai đánh giá hiệu quả kinh doanh từng mảng của công ty chứng khoán:

– Khác với các doanh nghiệp sản xuất thương mại hay các loại hình khác doanh thu và chi phí ghi trên báo có KQKD là con số tổng hợp, đối với công ty chứng khoán doanh thu và chi phí của từng mảng được tách biệt rất rõ ràng và chi tiết. Do đó tính hiệu quả kinh doanh của mỗi mảng thường rất đơn giản, chúng ta lấy doanh thu của từng mảng trừ đi chi phí là ra lợi nhuận gộp của mỗi mảng đó

– Những công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất thường đi kèm với đó là kết quả kinh doanh từ cho vay ký quỹ cũng rất lớn. Tuy nhiên, rủi ro đối với hoạt động cho vay cũng tương đối lớn bởi nhiều công ty chứng khoán đẩy mạnh cho vay và quản lý lỏng lẻo đã gặp rủi ro nợ xấu và thua lỗ rất lớn trong các năm 2010-2014. Do đó, chúng ta cần tìm hiểu, thu thập các thông tin ngoài lề về hoạt động cho vay, danh mục cho vay, phương thức QTRR mà công ty chứng khoán đó đang làm

– Các công ty chứng khoán có tài khoản HTM lớn thường đi kèm với nợ vay rất lớn để phục vụ cho kinh doanh nguồn vốn, đây là các khoản gửi rất an toàn. Do đó không hẳn những công ty chứng khoán này có nợ vay cao hơn vốn chủ sở hữu nhiều mà có rủi ro cao hơn các công ty khác.

– Rủi ro lớn nhất đối với một công ty chứng khoán thường là rủi ro đến từ danh mục tự doanh lớn (FVTPL và AFS) nên khi đầu tư chúng ta luôn phải lưu ý theo sát các cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tự doanh của họ để tránh các rủi ro cổ phiếu giảm mạnh gây thua lỗ cho công ty chứng khoán

– Các công ty chứng khoán có mảng ngân hàng đầu tư mạnh thường sẽ có mảng thu xếp vốn hiệu quả và khách hàng tổ chức phát triển hơn.

Thứ ba đánh giá dòng tiền của công ty chứng khoán rất khác với các loại hình kinh doanh khác

– Đối với 1 doanh nghiệp phi tài chính thì dòng tiền ra và vào của công ty vô cùng quan trọng, còn đối với các công ty chứng khoán dòng tiền không có nhiều ý nghĩa so với chất lượng tài sản trong bảng cân đối kế toán và hiệu quả kinh doanh bền vững của từng mảng trong bảng báo cáo kết quả kinh doanh

– Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư thường rất nhỏ và có thể bỏ qua ngay do: 1.Công ty chứng khoán đầu tư rất ít vào tài sản cố định; 2. Nếu có đầu tư tài chính lớn thì với công ty chứng khoán đó thuộc hoạt động kinh doanh chứ không phải hoạt động đầu tư.

– Lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán âm nhiều năm liên tiếp không hẳn là xấu thậm chí còn rất tốt: ngoài việc phụ thuộc lãi lỗ kinh doanh thì vấn đề quan trọng nhất là nó phụ thuộc vào việc mở rộng kinh doanh của công ty. Nếu 1 công ty chứng khoản mở rộng đầu tư vào các tài sản tài chính thì dòng tiền kinh doanh luôn âm.

– Lưu chuyển hoạt động tài chính dương nhiều chưa chắc đã xấu thậm chí còn tốt nếu việc dương là do hoạt động kinh doanh mở rộng mạnh (ở Việt Nam các công ty chứng khoán lớn đều mở rộng không ngừng hàng năm)

– Tiền và tương đương tiền của các công ty chứng khoán không quan trọng bằng các tài sản tài chính của công ty chất lượng có tốt không, vì khác với các loại hình khác các tài sản tài chính rất dễ chuyển đổi thành tiền nếu có chất lượng tốt với chí phí chuyển đổi rất thấp. Do đó các công ty chứng khoán hiệu quả thường không dự trữ tiền mặt nhiều như các ngành khác.

Phương pháp định giá thường dùng với ngành chứng khoán

Do đặc thù là ngành có tính chất chu kỳ và phụ thuộc vào sự biến động của thị trường chứng khoán rất cao, ngoài ra đây là ngành tài chính (một ngành kinh doanh tiền). Chính vì thế người ta thường định giá theo phương pháp kết hợp giữa P/B và P/E

– Dùng P/E để định giá mảng kinh doanh môi giới, ngân hàng đầu tư

– Dùng P/B định giá cho mảng kinh doanh nguồn vốn, tự doanh, cho vay ký quỹ


- FVTPL: ghi nhận theo giá thị trường và được hạch toán là lợi nhuận đầu tư trong báo cáo KQKD.

- AFS: ghi nhận theo giá thị trường và hạch toán vào vốn chủ sở hữu trong khoản mục “ chênh lệch đánh giá lại tài sản theo giá trị hợp lý”.

Như vậy, các TSTC trong AFS nếu chưa chốt lời thì không hề đóng góp vào doanh thu trong quý đó, tuy nhiên nó lại là một khoản lợi nhuận tiềm tàng nếu doanh nghiệp có chủ ý chuyển các khoản đầu tư từ AFS sang FVTPL và ngược lại để điều tiết lợi nhuận. Với sự khác biệt này, việc xem xét mức độ hiệu quả từ tự doanh của 1 công ty không thể chỉ xem xét qua đóng góp vào doanh thu trên bảng kết quả kinh doanh mỗi quý mà cần phải xem xét cả các tài sản chưa chốt lời tồn tại ở danh mục AFS.