• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

Nhìn Vol và giá đoán thị trường

- GIÁ giảm - VOL khủng: Nhiều người bán tháo, kể cả cá mập chốt lời, => Tình hình xấu.

- GIÁ tăng - VOL khủng: Nhiều người mua bất chấp, mua bằng mọi giá, nhất là giá đóng cửa cao nhất phiên, ==> tình hình tốt.

- GIÁ đi ngang - VOL giảm: Các con giời chả buồn buôn bán, chứng sĩ vừa đi vừa chưởi, ==> đang tích lũy, và có thể thay đổi xu hướng trong thời gian ngắn sắp tới - khi mà bên bán và bên mua hết kiên nhẫn hoặc có tin tốt hoặc xấu bất ngờ - và sẽ phá vỡ thế bế tắc, có thể giảm mạnh, và có thể tăng mạnh tùy thuộc vào thị trường chung.

- GÍA đi ngang - VOL tăng: Nhà cái đang đè giá gom hàng, và lúc này dấu chân người khổng lồ xuất hiện.

- GÍA giảm - VOL giảm: Bên mua đang làm chủ cuộc chơi, vì lúc này giá phụ thuộc vào hành vi của bên mua chứ ko phải bên bán, ko mua thì giá giảm.

- GIÁ tăng - VOL giảm: Thị trường ngẫu hứng, tăng ko bằng gang tay, mai hay mốt cũng giảm lại. Đang cầm hàng tốt nhất đem ra táng trong những phiên thế này, mai hay mốt mua lại với giá rẻ hơn.


Theo VSA

 Vol tăng giá tăng là ngon rồi đấy!

Nếu như cổ phiếu break từ nền tích lũy thì đúng cần vol tăng giá tăng điều đó rất tốt, hoặc có những phiên break từ những base trên đường di chuyển tăng giá tuy nhiên nếu trong quá trình đi lên của cổ phiếu vol cứ theo đó mà tăng liên tục thì lại không tốt tý nào. Thứ 1 là nhỏ lẻ đu bám quá nhiều mới sinh ra vol, thứ 2 tổ chức họ đang cổ gắng phân phối cổ phiếu trên đường lên. Không tin bạn sẽ thường thấy những con mạnh nhất thì càng đi lên nó càng siết vol lại, hoặc di chuyển với mức vol trung bình trừ giai đoạn break đầu tiên

Giá giảm mạnh nhưng vol tăng mạnh: Tát ao rồi, xúc nhanh còn kịp!

Có nghĩa bạn đang hình dung giá giảm nhưng vol tăng thì có khả năng tay to vào múc chứ gì, thì mới làm thanh khoản tăng đúng ko? - Nó sẽ đúng nếu cổ phiếu đang có đà giảm giá mạnh hoặc rơi về vùng hỗ trợ cứng. Nhưng thường vol tăng mạnh, giá giảm mạnh ở một thời điểm nào đó chỉ mang tính chất đầu cơ, nó vẫn đang có ý nghĩa nhiều là lực bán rất mạnh và số lượng bán rất đông. Còn sai nếu cổ phiếu nằm trên vùng đỉnh, đặc biệt là sau đà tăng giá mạnh của cổ phiếu. Thì vol tăng giá giảm mạnh là có nghĩa tổ chức đang cố gắng phân phối hàng nhiều nhất có thể! Hãy né ra!

Giá tăng, vol quá kém: kéo ảo rồi!

Nếu quá trình break, vẫn có những phiên break kiểu như thế này! CÓ nghĩa là break giả, break xịt. Cổ phiếu vượt nhưng sau đó có khả năng giảm lại do không nổ volume, giống như việc tổ chức không có nhu cầu ở đây, volume này chỉ mang tính chất nhỏ lẻ tự đẩy nhau là chính. Nhưng nếu cổ phiếu đã break và trên đà tăng giá đi lên, mình lại thích thanh khoản có vẻ teo tóp cũng được, vì chứng tỏ có rất ít người muốn bán ra, và cầu vào chỉ có tác dụng đẩy giá lên liên tục

Phiên này là một phiên tốt nếu thanh khoản giảm và giá giảm nhẹ, sideway biên hẹp. Chính những phiên này tạo thành vùng tích luỹ cho cổ phiếu, hàng sẽ được thu gom lại bởi tổ chức.

NHỮNG YẾU TỐ VĨ MÔ TRONG NƯỚC CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG.


Chủ đề không mới, nhưng có lẽ không lỗi thời. CPI, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền M2, TB tác động thế nào đến chỉ số giá chứng khoán? Mình sẽ viết ngắn gọn nha. Lý thuyết là cần thiết mà.

1. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG CPI – CONSUMER PRICE INDEX

Theo Samuel& Nordhaus CPI dựa vào giá bán lẻ của các mặt hàng chính trong nền kinh tế: Lương thực, thực phẩm, chất đốt..

CPI tăng cao gây ra các yếu tố đầu vào (inputs) của doanh nghiệp lớn hơn, nhưng những doanh nghiệp nào mà không tăng giá bán sản phẩm đầu ra (outputs) tương ứng (vì sự cạnh tranh giá trên thị trường, hoặc theo quy định của Chính phủ) thì chắc chắn lợi nhuận sẽ giảm. Giá chứng khoán giảm.

Thêm vào đó, lạm phát tăng cao, người dân không muốn giữ tiền mặt. Những người khôn ngoan sẽ để tiền của mình vào, vàng, bất động sản,… Một lượng tiền lớn trong dân cư không huy động được. Lúc này doanh nghiệp thiếu vốn làm ăn, sản xuất bị thu hẹp và ảnh hưởng xấu tới kinh tế. Hậu quả, giá chứng khoán giảm nữa.

(Tất nhiên chúng ta có khái niệm - Lạm phát ᴠừa phải (moderate inflation): Không gâу ra những tác động nhiều ᴠới nền kinh tế, nó còn có khả năng khích thích ѕản хuất ᴠì giá tăng nhẹ làm tăng lợi nhuận ѕẽ khuуến khích các DN tăng ѕản lượng. Nhưng khi vượt qua khỏi vùng này, sẽ là lạm phát đi ngược chiều nền kinh tế)

2. LÃI SUẤT ( INTEREST).

Pearce chỉ ra, lãi suất là giá của dịch vụ tiền tệ. Như này, khi lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng, lợi nhuận doanh nghiệp giảm, giá chứng khoản giảm.

Thêm nữa, lãi suất tăng làm tăng lãi suất chiết khấu được sử dụng để chiết khấu dòng tiền tương lai khi định giá chứng khoán. Giá chứng khoán giảm.

Mặt khác, lãi suất tăng làm cho những người vay tiền để đầu tư chứng khoán gặp nhiều rủi ro trong quá trình đầu tư hơn. Việc đầu tư chứng khoán trở nên kém hấp dẫn, số người tham gia đầu tư sẽ ít đi. Giá chứng khoán giảm.

3. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (EXCHANGE RATE)

Tỷ giá hối đoái tác động đến giá chứng khoán trong nhiều khía cạnh khác nhau.

Thứ nhất, tác động đến khả năng cạnh tranh của các công ty xuất – nhập khẩu. Rõ ràng: khi mà đồng nội tệ thấp hơn so với ngoại tệ, giá cả hảng hoà xuất khẩu của quốc gia đó sẽ rẻ hơn so với hàng nước ngoài. Từ đó khả năng cạnh tranh của nước xuất khẩu sẽ lớn hơn, lợi nhuận sẽ tăng thêm và giá chứng khoán của doanh nghiệp sẽ tăng.

Thứ hai, tỷ giá hối đoái tác động đến dòng vốn đầu tư gián tiếp vào thị trường. Khi mà đồng nội tệ kì vọng tăng giá so với ngoại tệ lớn, TTCK trở nên hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó dẫn tới cầu về chứng khoán sẽ tăng và giá chứng khoán sẽ tăng theo.

Tỷ giá hối đoái - Đồng biến, hoặc nghịch biến!

4. CUNG TIỀN M2

Theo Pearce M2 gồm: Tổng lượng tiền mặt do NHTW phát hành đang được lưu thông, tiền mà NHTM gửi tại NHTW va tiền gửi tiết kiệm nữa.

Cung tiền M2 khi tăng, sẽ làm tăng tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lạm phát tăng dẫn tới lợi nhuận doanh nghiệp giảm, giá chứng khoán sẽ giảm.

Nhưng quan điểm khác cho rằng, khi cung tiền M2 tăng, tăng tiêu dùng hàng hoá, tăng sử dụng các tài sản chính, tăng thanh khoản trên TTCK. Giá chứng khoán sẽ tăng.

Còn nữa, khi cung tiền tăng làm lãi suất thực giảm. Lãi suất thực giảm làm lãi suất chiết khấu được sử dụng để định giá chứng khoán giảm hoặc các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp giảm. Từ đó giá chứng khoán tăng.

Vậy M2 có thể đồng biến hoặc nghịch biến.

5. CÁN CÂN THƯƠNG MẠI (TB- TRADE BALANCE).

Cán cân thương mại tác động qua tỷ giá. Khi TB thâm hụt, các nhà đầu tư sẽ bi quan về thị trường. Giá chứng khoán giảm.

Khi TB bị thâm hụt lâu dài, các quốc gia có thể phá giá đồng tiền của họ để tạo lợi thế cạnh tranh, tác động tỷ giá hối đoái , tác động đến lợi nhuận của DN xuất khẩu như nói ở phần 3. Từ đó tác động lên giá chứng khoán. Thank anh Vũ Hải Đăng chỉ ra cho em cái funfact này hehe 😉

Việc phá giá đồng tiền đã xảy ra nhiều trên thế giới. Đặc biệt là ở Trung Quốc, bắt đầu từ 2015. Đúng ra trước đó, những năm 2014 Trung Quốc liên tục giảm lãi suất để kích thích nền kinh tế, nhưng biện pháp này không đem lại nhiều hiệu quả cụ thể. Cho đến tháng 8 năm 2015, Ngân hàng Trung Quốc (PBoC) chơi lớn khi phá giá đồng nhân dân tệ (NDT) gần 2% so với đồng USD để kích thích nền kinh tế và là công cụ để kích thích xuất khẩu của đất nước. Đến 2017, khi tính chung trên cả năm, hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc tăng 7,9% - mức cao nhất kể từ năm 2013, trong khi nhập khẩu cũng ghi thêm 15,9% - mức cao mới tính từ năm 2011. Chính vì những lo ngại về nền kinh tế và phá giá NDT này mà Trump đã phải liên tục ra các biện pháp trừng phạt, áp thuế. 3/2018 đã xảy ra sự kiện mà chúng ta ai cũng biết " Chiến tranh thương mại Mỹ Trung" chính thức nổ súng, bóp cò!





Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

CHUYỆN CỦA NHÀ BANKS – PHẦN 1: LDR

Thời gian gần đây, mình gặp được rất nhiều các câu hỏi của anh chị về cơ bản ngành ngân hàng. Và thật lòng mà nói, đây không phải ngành dễ phân tích và bản thân mình cũng không thể nào hiểu rõ mọi khía cạnh của ngành. Tuy nhiên, theo mình, nếu anh chị muốn tìm hiểu về ngành này, thì anh chị nên nắm rõ một vài chỉ số. Bài viết hôm nay, mình sẽ chia sẻ về tỷ lệ LDR.

Với anh chị nào thích tìm hiểu về lịch sử kinh tế Việt Nam hoặc ở đủ lâu tại thị trường đều nhận ra tử huyệt từ làm hệ thống lao đao hơn chục năm trước. Chuyện này để cuối bài mình kể với anh chị nhé ^^ Vào vấn đề chính trước đã.

1. LDR là gì?

LDR là viết tắt của Loan to Deposit Ratio. Chỉ số này được rất nhiều chuyên gia nhắc đến để dự đoán xu hướng. Nghe thì rất cao siêu, nhưng thực tế chúng ta có thể hiểu đơn giản chỉ số này theo công thức sau:

LDR = Vốn cho vay/ Vốn huy động

Trong đó, vốn cho vay khách hàng là tổng hợp tiền cho vay, tiền cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dòng tiền thuộc nghiệp vụ khác của ngân hàng như:  bao thanh toán, chiết khấu các loại giấy tờ có giá. 

Còn vốn huy động được tính bằng công thức: Vốn huy động = Tiền gửi khách hàng – tiền gửi vốn chuyên dùng – Tiền gửi ký quỹ + Giấy tờ có giá

Để dễ hiểu, chúng ta lấy TCB & ACB làm ví dụ nhé: (Ảnh dưới)




LDR (TCB) = 343.605.581 / (314.752.525 + 33.679.824 - 10.997.126) = 101.83%

LDR (ACB) = 356.050.950 / (379.920.669 + 30.547.883 – 1.681.719 – 168.865) = 87.14%

Có thể thấy tỷ lệ của 2 ngân hàng trên khá chênh nhau. Vậy thế nào mới là tốt?

2. LDR thế nào là phù hợp?

Trên lý thuyết, con số này sẽ không thể vượt quá 100%. Nhưng thực tế thì Ngân hàng có thể huy động vốn từ nhiều nguồn nên đôi khi chúng ta có trường hợp của TCB như trên.

Nếu LDR > 100%, thì vốn cho vay còn lớn hơn cả tiền huy động được => Rõ ràng chúng ta sẽ thấy ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Hiểu đơn giản, LDR lên cao quá thì khả năng tự bảo vệ khỏi nguy cơ bị rút tiền gửi sẽ kém đi kha khá.

Vậy nếu LDR nhỏ thì là tốt sao? Cái này theo mình cũng không hẳn đâu. Vì khi đó, một là ngân hàng đang thể hiện tính thanh khoản thấp, chất lượng phục vụ tệ. Hai là để nhận định một ngân hàng có rủi ro hay không chúng ta phải kết hợp với nhiều yếu tố khác như chất lượng tín dụng, rủi ro kỳ hạn, v.v => Mọi thứ quá sớm để kết luận.

Hiện tại mức trần LDR được áp dụng tại quê ta là 85%, và nhiều chuyên gia cũng nhận định từ 80 – 90% là an toàn. Tuy nhiên, cá nhân mình nghĩ không có một con số nào nên được đưa ra làm chuẩn mực; anh chị nên kết hợp thêm nhiều yếu tố khác để lựa chọn con số này.

Thường mình sẽ hay lựa chọn các banks có mức LDR từ 75%-85% vì khi đó dư địa cho vay sẽ vẫn còn nhiều => tăng trưởng có thể sẽ nhỉnh hơn các banks khác có mức cao vượt trần.

3. Chuyện mới, chuyện cũ về chỉ số này

Ở các nền Tài chính khác, CAR mới là “con đẻ”, còn người em LDR chẳng mấy khi được coi trọng. Lí do là vì cho vay là hoạt động lớn, nhưng không chiếm cả tảng như ở quê mình. Phần còn lại từ vốn huy động, họ sẽ tham gia đầu tư trên thị trường vốn, mua bán trái phiếu chính phủ và các giấy tờ có giá khác sôi nổi hơn.

Còn ở Việt Nam, nói đến banks, hiếm chuyên gia phân tích nào bỏ chỉ số ấy. Sở dĩ LDR được ưa chuộng do nhiều năm liền, các banks cấp tín dụng dễ dãi khiến tăng trưởng tín dụng trở nên nóng. Và tiền đó đổ vào đâu? Nếu đổ vào SXKD thì mình sẽ không có ý kiến gì, nhưng lượng tiền khổng lồ lại chảy vào BĐS vào các dự án BOT rất nhiều gây ra rủi ro lớn. Ngoài ra, cũng không ít ngân hàng cho vay sân sau, cho vay đảo nợ, cho vay với đối tượng nợ xấu, nhiều lúc còn chẳng thu hồi được nợ cũ mà vẫn cho vay mới,…

Chuyện cũ vẫn đôi khi là vết thương hở đối với nhiều ngân hàng. Năm 2011 chính xác là hệ quả của chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm dẫn đến sự mất cân đối giữa dư nợ tín dụng và tổng huy động vốn. LDR toàn ngành trung bình là gần 120% (không tính các cách lách trần tín dụng thì con số này còn cao nữa). 

Anh chị tưởng tượng thanh khoản toàn hệ thống ngân hàng căng thẳng, các banks thi nhau tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn để hút tiền. => Áp lực chi phí lớn khiến nhiều ngân hàng không kiểm soát được.

Rơi vào thế bí, khách rút tiền mà ngân hàng không xoay được, nhiều ngân hàng phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng chỉ biết cách tăng lãi suất, dẫn đến những lúc lãi suất liên ngân hàng đạt đến 30%. 

Kết quả là có gần 10 ngân hàng trong diện tái cơ cấu bắt buộc do bị mất thanh khoản, trong đó có thanh khoản kỳ hạn mà đến nay, hậu quả vẫn chưa giải quyết triệt để…

Trên đây là câu chuyện khá thú vị mà mình muốn chia sẻ với các anh chị. Chỉ số này là quan trọng tại Việt Nam, nhưng anh chị nên kết hợp với nhiều yếu tố khác để có một cái nhìn chính xác hơn về ngành và về bank mình quan tâm.

BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ TRONG PHÂN TÍCH DOANH NGHIỆP

 1. Khái niệm

BCLCTT (Cash Flow Statement) là một bản báo cáo tài chính doanh nghiệp tổng hợp lại tình hình thu, chi tiền tệ của doanh nghiệp.

Khi đọc BCTC, nếu như Bảng cân đối kế toán giúp thể hiện giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm, Bảng kết quả hoạt động kinh doanh giúp người đọc nắm được tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong năm của doanh nghiệp là bao nhiêu, thì Báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cung cấp thêm rất nhiều thông tin quan trọng không được làm rõ trong 2 bản còn lại như: Tại sao một doanh nghiệp có lãi mà không có tiền?, Trong kỳ doanh nghiệp đã mua sắm và thanh lý bao nhiêu tài sản cố định?,...

2. Các dòng tiền trong CFS

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Gồm có những khoản thu, chi liên quan đến hoạt động mua sắm, đầu tư hay thanh lý những tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn.

Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Gồm có những khoản thu, chi liên quan đến hoạt động huy động vốn từ chủ nợ và chủ sở hữu. Hay hoàn trả vốn cho chủ nợ, chia lãi cho nhà đầu tư, chia cổ tức cho cổ đông, mua lại cổ phần.

CFF còn được hiểu là dòng tiền làm thay đổi vốn lưu động

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (Operating Cash Flow): Là một trong những chỉ báo rất quan trọng và được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu khi đánh giá tình hình hoạt động của công ty. OCF bao gồm có các khoản thu, chi liên quan đến hoạt động tiêu thụ và sản xuất sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp.

Có 2 phương pháp để tính OCF:

Trực tiếp: OCF = Tổng doanh thu – Chi phí hoạt động

Gián tiếp: OCF = EBIT + Khấu hao – Thuế

Trong đó: EBIT là lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Khấu hao là chi phí cho tài sản bị hao mòn

Cách tính trực tiếp khá đơn giản, độ chính xác cao nhưng không mang lại đầy đủ thông tin về hoạt động của công ty, các nguồn tiền cho nhà đầu tư. Do đó phần lớn các doanh nghiệp hiện nay áp dụng cách tính gián tiếp để hiểu về OCF và lưu chuyển dòng tiền thuần.

Lưu ý: Các nhà đầu tư thường có xu hướng tìm đến doanh nghiệp đạt OCF ngưỡng cao, tăng trưởng tốt với định giá còn thấp. Do đó nếu OCF < NetIncome hoặc OCF < 0 là một tín hiệu đáng chú ý khi phân tích doanh nghiệp vì khi đó công ty có thể đang không thực sự có năng suất hoạt động tốt, không chuyển hóa được lợi nhuận thành tiền mặt và cần xem xét lại hoạt động kinh doanh.

Tuy nhiên OCF âm không khẳng định hoàn toàn việc doanh nghiệp đang gặp khó khăn.

Ví dụ trong trường hợp công ty đang đầu tư thêm tiền cho việc xây nhà máy, phát triển mô hình hoặc mở rộng kinh doanh thì chi phí hoạt động sẽ tăng cao, dẫn đến việc OCF âm trong một giai đoạn nhất định.

3. Lợi nhuận cao có phải là tất cả khi chưa phân tích đến dòng tiền?

Hoạt động kinh doanh vốn được ví như là trái tim của một cơ thể, còn dòng tiền chính là dòng máu nóng của cơ thể đó. Để xem xét một doanh nghiệp có “khỏe” hay không? Trước hết phải xem xét dòng máu nóng của doanh nghiệp có vận hành tốt không? Trên thực tế, có khá nhiều nhà đầu tư bỏ qua hoặc xem nhẹ Báo cáo LCTT khi đọc BCTC, điều này có thể dẫn đến việc bị “qua mặt” bởi các con số thể hiện nhận lợi nhuận cao, tăng trưởng rất mạnh mẽ nhưng không hiểu được dòng tiền đó có bản chất thế nào.

Ví dụ: Vào thời điểm năm 2017, HBC ghi nhận lợi nhuận kỉ lục tại mức 859 tỷ VNĐ - tăng trưởng gấp hơn 10 lần so với 2 năm trước đó. Nếu chỉ nhìn vào con số này, nhà đầu tư sẽ cho rằng công ty đang làm ăn rất tốt, cùng với đà đi lên mạnh mẽ của thị trường BĐS và sự im ắng của các đối thủ cạnh tranh khác như CTD lúc bấy giờ, thị giá cổ phiếu HBC được đẩy lên mức 49.950 đồng/cổ phiếu, tăng 233% so với năm 2015.

Tuy nhiên khi phân tích đến dòng tiền, HBC lại có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh âm đến 1.059 tỷ, chứng tỏ dù công ty ghi nhận mức lãi cao nhưng đang không thu về được tiền thật, dẫn đến việc phải đi vay để bù lại khoản bị khách hàng nợ tiền, không thanh toán và chiếm dụng vốn.

Như vậy thực chất, cổ phiếu HBC đang gặp áp lực về mặt dài hạn. Ngay sau thời điểm này, cổ phiếu HBC đã phải gánh chịu cơn “địa chấn” với hàng nghìn tỷ đồng vốn hóa bị bốc hơi, các khoản phải thu và nợ vay tài chính tăng cao và chiếm tỉ trọng lớn. Sau những đợt phát hành cổ phiếu khiến thị giá bị pha loãng, từ một cổ phiếu lớn với mức giá 6x, năm 2020 mức giá cổ phiếu HBC đã trôi về vùng 6.000 đồng.

4. Một số ví dụ

Bán hàng và thu tiền : CFO

Mua 20% cổ phần của công ty X để nắm giữ dài hạn : CFI, công ty X là công ty liên kết, dòng tiền này, sẽ tạo ra tài sản đầu tư dài hạn ở trên bảng cân đối kế toán, nên sẽ làm dòng tiền đầu tư

Nhận cổ tức tiền mặt từ công ty X : CFI (một phần CFO theo chuẩn mực quốc tế). Vì dòng tiền này  khi nhận, nó không trực tiếp làm thay đổi vốn lưu động của chủ sở hữu, nên không thể là CFF

Trả cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông : CFF vì dòng tiền này làm thay đổi vốn lưu động của chủ sở hữu

Trở nợ gốc vay : CFF vì dòng tiền này làm thay đổi vốn chủ sở hữu

Trả lãi vay  : CFO, vì doanh nghiệp sẽ phải lấy tiền từ hoạt động kinh doanh để trả lãi ( thỉnh thoảng là CFI tính vào tiền đầu tư)

Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư công ty sản xuất thường âm, nếu dương, chứng tỏ công ty đang thu tiền đầu tư về, hay là thu nhỏ hoạt động kinh doanh trong tương lai, giảm lợi nhuận trong tương lai