• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2019

Thuật ngữ cơ bản

Sự gia tăng (lợi nhuận và doanh thu): chỉ số phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp. Nó thể
hiện tỷ lệ tăng trưởng về lợi nhuận và doanh thu qua các quý. Những công ty mạnh thường có
tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn trong 3 hay 4 quý gần đây. Ví dụ: Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận của
công ty XYZ như sau: (Q1) + 20%, (Q2) + 27%, (Q3) + 52%, (Q4) + 59%


Tích luỹ: Các nhà đầu tư tổ chức hay các nhà đầu tư chuyên nghiệp đang mua cổ phiếu.Chỉ số tích luỹ/phân phối: Chỉ số độc quyền của tờ Investor’s Business Daily. Một trong những
chỉ số của IBD
SmartSelectTM phản ánh mức độ mua vào (tích luỹ) và bán ra (phân phối) đối
với một cổ phiếu cụ thể trong 13 tuần qua. Chỉ số này được cập nhật hàng ngày, được xếp hạng
từ A đến E:
A = Được mua vào lớn
B = Được mua vào ở mức trung bình
C = Mức mua vào bằng mức bán ra
D = Được bán ra ở mức trung bình
E = Được bán ra ở mức cao


Đường tăng: Đường tăng được tính trên cơ sở tổng số cổ phiếu tăng giá trên tổng số cổ phiếu
giảm giá mỗi ngày tại Thị trường chứng khoán New York (NYSE). Đây là một công cụ kỹ thuật
phổ biến nhưng thường bị các nhà đầu tư lạm dụng hoặc hiểu sai.


Lợi nhuận hàng năm: Chỉ số phản ánh sự tăng trưởng của công ty trong dài hạn. Chỉ số này
thường đề cập đến lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu của công ty trong một năm cụ thể.


Giá chào bán và giá đặt mua: xác định giá mua vào/bán ra của một loại cổ phiếu. Cổ phiếu
thường được mua vào ở mức giá thấp nhất mà người bán chấp nhận và được bán ra ở mức giá
đặt mua cao nhất mà người mua chấp nhận. Sự chênh lệch giữa 2 mức giá này gọi là chênh lệch
giá.


Phân bổ vốn: Phân bổ các tỷ lệ vốn trong một danh mục đầu tư vào các loại hình đầu tư khác
nhau (cổ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu nước ngoài, dự trữ tiền mặt, vàng, các quỹ tương hỗ, giao
dịch kỳ hạn, giao dịch quyền chọn v.v…)


Tăng giá hoặc giảm giá trung bình: Sau khi mua vào một cổ phiếu đầu tiên sẽ làm tăng giá
trung bình của những cổ phiếu mua vào tiếp theo. Sự mua thêm này sẽ được đảm bảo nếu cổ
phiếu được mua đúng điểm mua và giá của nó tăng từ 2 đến 3% so với giá mua ban đầu. Giảm
giá trung bình là việc mua vào cổ phiếu khi mức giá trung bình giảm. Tuy nhiên nó có độ rủi ro
cao vì bạn không bao giờ biết được mức giá sẽ sụt giảm đến đâu. Mức giá trung bình là các
mức giá phải trả cho mỗi lần mua cổ phiếu chia cho tổng số cổ phiếu đã mua vào. Nếu mức giá
mua vào 100 cổ phiếu đầu tiên là 50 đô-la và giá mua vào 75 cổ phiếu lần thứ hai là 50 ½ đô-la
thì mức giá mua vào trung bình cho 175 cổ phiếu là 50 5/8 đô-la.


Đơn hàng tồn đọng: Tổng số hàng đã được đặt mua nhưng chưa tiến hành giao hàng (Sự gia
tăng đơn hàng tồn đọng thường có nghĩa là công việc kinh doanh của công ty đang thuận lợi).
Mô hình (và những mô hình cơ bản, xây dựng mô hình, vùng củng cố giá, mô hình giá):thuật ngữ được sử dụng trong phân tích kỹ thuật đề cập đến mô hình biểu đồ của cổ phiếu. Nó
là một công cụ để dự báo mức giá của cổ phiếu trong tương lai. Mức giá này thường duy trì
trong khoảng 7 tuần nhưng cũng có thể kéo dài đến 12 tháng.


Thị trường giá xuống: Là giai đoạn mà các chỉ số thị trường (như chỉ số Dow Jones, S&P 500,
Nasdaq) giảm từ 15 đến 25%, trong một số trường hợp là 50%. Xu hướng này có thể kéo dài 9
tháng đến một năm nhưng cũng có thể chỉ từ 3 đến 6 tháng.


Biểu đồ “Các quỹ tăng trưởng vốn lớn và các quỹ tăng trưởng vốn nhỏ”: có trong trang
“Các nhóm ngành” trên tờ
Investor’s Business Daily. Biểu đồ này chỉ ra mức độ các tổ chức lớn
đang mua vào và bán ra những cổ phiếu có mức vốn hoá thị trường lớn hay nhỏ. Biểu đồ này
giúp nhận ra những thay đổi trong việc mua bán của các tổ chức.


Cổ phiếu lớn: Cổ phiếu nổi bật trên thị trường. Microsoft, IBM, AT&T được coi là những cổ
phiếu lớn.


Cổ phiếu blue-chip: Cổ phiếu của những công ty danh tiếng, có những chỉ số cơ bản tốt và có
chất lượng (doanh thu, lợi nhuận…).


Trái phiếu: Là giấy xác nhận nợ giữa bên phát hành với tư cách người đi vay và nhà đầu tư với
tư cách người cho vay. Lãi suất cố định được trả theo định kỳ, và phần gốc sẽ được hoàn trả
vào thời gian đáo hạn.


Thị trường giá lên: Là giai đoạn kéo dài nhiều tháng hoặc vài năm của thị trường mà trong đó
những chỉ số chính như Dow Jones, S&P 500, và Nasdaq đều tăng trưởng.
CAN SLIM: Từ viết tắt của chiến lược đầu tư của William J. O’Neil. Mô hình CAN SLIM dựa trên
7 đặc điểm mà ông tìm thấy ở những cổ phiếu rất thành công trong 45 năm qua. Cuốn sách
How to make money in stocks (Làm giàu qua chứng khoán) của William J. O’Neil sẽ cung cấp
thêm chi tiết về mô hình này.
C = Tăng trưởng lợi nhuận trong quý hiện tại
A = Tăng trưởng lợi nhuận hàng năm
N = Sản phẩm mới, dịch vụ mới, ban quản lý mới và giá trần mới
S = Cung và cầu
L = Cổ phiếu hàng đầu và cổ phiếu “hạng hai”
I = Nhà đầu tư tổ chức
M = Xu hướng thị trường


Tài khoản tiền mặt: Tài khoản môi giới trong đó các giao dịch được thực hiện bằng tiền mặt.
Đường tăng/giảm của cổ phiếu: Trên biểu đồ cổ phiếu, đường tăng/giảm được xác định
bằng cách vẽ một đường thẳng nối 3 điểm ở mức giá cao nhất của cổ phiếu và một đường gần
như song song nối 3 điểm ở mức giá thấp nhất trong cùng thời kỳ, thường là vài tháng. Nếu
đường tăng/giảm được xác định trong khoảng thời gian quá ngắn sẽ không chính xác.


Đỉnh điểm: Khi cổ phiếu đột ngột tăng trưởng ở mức cao hơn nhiều trong một hoặc 2 tuần
sau khi đã tăng trưởng trong nhiều tháng. Nhìn chung điều này xảy ra vào giai đoạn cuối cùng
trong quá trình tăng giá của cổ phiếu, báo hiệu cổ phiếu sắp giảm giá trong tương lai. Theo
nghiên cứu của William J. O’Neil, nhiều cổ phiếu hàng đầu trên thị trường biến động theo kiểu
này.


Quỹ kết thúc đóng: Các công ty đầu tư quỹ kết thúc đóng thường có một số lượng cổ phiếu
nhất định để bán ra. Những cổ phiếu này được giao dịch trên các thị trường chứng khoán chính
và biến động theo quy luật cung và cầu của thị trường. Do đó, không có gì bảo đảm rằng bạn có
thể bán cổ phiếu của mình ở mức giá trị ròng như khi bạn tham gia vào các quỹ kết thúc mở.
Hoa hồng: Là phí nhà đầu tư trả cho các nhà môi giới khi họ thay mặt nhà đầu tư mua hoặc
bán cổ phiếu.


Hàng hoá: Những loại hàng hoá như nông sản (đỗ tương, thịt lợn, ngũ cốc, cà phê…), kim loại,
các chỉ số tài chính, gỗ, hàng may mặc… được bán cho các nhà đầu tư thông qua những hợp
đồng giao dịch kỳ hạn.


Lợi nhuận gộp: Thường được áp dụng cho các quỹ tương hỗ, có liên quan tới việc tái đầu tư
lợi nhuận nhằm đem lại một khoản tiền lớn hơn cho bạn trong nhiều năm.
Lợi nhuận ước tính: Qua phân tích thị trường, dự đoán lợi nhuận tiềm năng của một công ty
trong 1 hoặc 2 năm tới.


Biểu hiện trái chiều: Biểu hiện tâm lý của các nhà đầu tư khi sử dụng những chiến lược đầu tư
không hợp lý. Khi biểu hiện này đạt đến đỉnh điểm sẽ dự báo các hành động trái ngược trên thị
trường. Ví dụ, một số nhà đầu tư cho rằng khi đa số các chỉ số phân tích cho thấy thị trường
đang tăng trưởng, có thể thị trường sắp chạm đỉnh. Ngược lại, khi các chỉ số phân tích cho thấy
thị trường sắp giảm sút thì họ lại tin rằng thị trường đang chuẩn bị cho một đợt tăng giá mới.
Sự điều chỉnh: Là sự sụt giảm của các chỉ số thị trường chung hay một cổ phiếu riêng lẻ.

“Chiếc cốc có tay cầm”: do William J. O’Neil phát triển, là một trong 3 mô hình biểu đồ thường
gặp khi tiến hành phân tích kỹ thuật. Tên của mô hình được đặt dựa trên hình dáng của biểu đồ
thể hiện sự biến động giá cổ phiếu giống một chiếc cốc có tay cầm
.
Các cổ phiếu/các nhóm ngành/các lĩnh vực có tính chu kỳ:
Là khi một cổ phiếu, ngành hay
lĩnh vực nào đó biến động theo chu kỳ kinh doanh (ví dụ: ngành đường sắt, hàng không, đồng,
thép, ô tô, nhà đất…)


Daily Graphs (Daily Graphs Online): Ấn phẩm và dịch vụ trực tuyến (www.dailygraphs.com)
cung cấp cho các nhà đầu tư cá nhân những thông tin dựa trên phân tích cơ bản và phân tích kỹ
thuật của hàng nghìn loại cổ phiếu.


Các cổ phiếu/các nhóm ngành/các lĩnh vực an toàn: Được các nhà đầu tư đánh giá là ổn
định hơn và tương đối an toàn. Đó thường là cổ phiếu của các mặt hàng như hàng tiêu dùng,
thuốc lá, thực phẩm, xà phòng, đồ uống nhẹ, siêu thị v.v…


Phân phối: Các tổ chức lớn đang bán cổ phiếu

Đa dạng hoá: Phân bổ vốn đầu tư ra nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giảm rủi ro trong danh
mục đầu tư.


“Hai đáy”: Biểu đồ của William J. O’Neil có dạng giống với chữ “W”. Đây là một trong 3 mô hình
biểu đồ cơ bản được dùng trong phân tích kỹ thuật.


Chỉ số Dow Jones (DJIA): Là chỉ số phản ánh biến động giá hàng ngày của 30 cổ phiếu của
những công ty lớn và blue-chip trên thị trường chứng khoán New York. Chỉ số này phản ánh xu
hướng biến động chung của nền kinh tế Mỹ.


Lợi nhuận (và tăng trưởng lợi nhuận): Là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá khả năng sinh lợi và
tăng trưởng của một doanh nghiệp hàng quý hoặc hàng năm.


Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu: Được tính bằng cách chia tổng lợi nhuận sau thuế cho tổng số
cổ phiếu phát hành của công ty. Có thể được sử dụng như một công cụ đánh giá mức độ tăng
trưởng và khả năng sinh lợi.


Chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS): Chỉ số chính tìm thấy trong các chỉ số của IBDSmartSelectTM trên tờ Investor’s Business Daily. Các cổ phiếu được xếp hạng từ 1 đến 99 (99 là
mức cao nhất) so sánh mức tăng trưởng lợi nhuận hiện tại và lợi nhuận hàng năm của một
công ty cụ thể với các công ty khác đang được niêm yết trên thị trường. Những cổ phiếu có chỉ
số EPS đạt 80 hoặc hơn thường là những công ty hoạt động tốt hơn những công ty khác ở mức
80% hoặc hơn về mặt lợi nhuận. Chỉ số EPS kết hợp tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trên mỗi cổ
phiếu của công ty trong 2 quý gần đây nhất với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trong từ 3 đến 5
năm.


Khoảng chân không: Thuật ngữ kỹ thuật miêu tả giá mở cửa của cổ phiếu tăng lên một
khoảng so với giá đóng cửa cao của ngày hôm trước. Điểm này thường chỉ ra giai đoạn cuối
cùng trong diễn biến giá cổ phiếu sau khi đã tăng đáng kể trong nhiều tháng.


Mở rộng (giá): Thuật ngữ kỹ thuật miêu tả một điểm mà tại đó, mức giá của cổ phiếu bắt đầu
tăng lên trên mức của điểm mua vào, có độ rủi ro cao hơn khi mua vào.


Cục dự trữ Liên bang (Fed): là một cơ quan chính phủ nhằm quản lý, điều tiết và tác động
đến nguồn cung tiền quốc gia, hệ thống ngân hàng, tỷ lệ lãi suất. Cơ quan này thường tác động
đến thị trường bằng cách mua hoặc bán chứng khoán chính phủ và các hoạt động khác.
Tỷ lệ chiết khấu của Cục dự trữ Liên bang: Một biến số quan trọng của thị trường thể hiện
khoản phí các ngân hàng thành viên phải trả khi vay từ Cục dự trữ Liên bang. Việc cắt giảm tỷ
lệ này khuyến khích vay và tăng nguồn cung tiền (và ngược lại).


Chuyên mục “Mức giá trần và giá sàn trong 52 tuần”: Có thể tìm đọc hàng ngày ở trang
“Nhóm ngành” trên tờ Investor’s Business Daily. Mục này chỉ ra những nhóm ngành dẫn đầu với
số lượng lớn cổ phiếu đạt mức giá trần mới cũng như danh sách những cổ phiếu đạt mức giá
trần mới trong ngành đó (danh sách “Giá trần mới”).
“Mô hình bằng phẳng”: Một trong 3 mô hình biểu đồ cơ bản thường gặp khi phân tích kỹ
thuật. Mô hình này thường xuất hiện sau khi cổ phiếu đã kết thúc quá trình tăng trưởng theo
các mô hình “chiếc cốc có tay cầm” và “hai đáy”. Cổ phiếu biến động theo mô hình “bằng
phẳng” thường tăng trưởng nhẹ theo xu hướng thẳng trong ít nhất 5 tuần và không điều chỉnh
quá mức từ 8 tới 12%.


“45 năm nghiên cứu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng khoán”:William J. O’Neil bắt đầu sự nghiệp đầu tư với tư cách là một nhà môi giới chứng khoán. Sau
nhiều năm, ông đã phát triển một chiến lược đầu tư độc đáo dựa trên việc phân tích những cổ
phiếu thành công nhất trên thị trường trong mọi thời kỳ. Nghiên cứu này xem xét mọi yếu tố,
cả cơ bản và kỹ thuật, có thể có của mỗi cổ phiếu tại một thời điểm. Không có yếu tố nào được
coi là quan trọng hơn. William J. O’Neil khám phá ra 7 nhân tố thường xuất hiện liên tục, qua
từng chu kỳ, từ năm 1953 tới nay. Những yếu tố này đã được biết đến với tên gọi tắt dễ nhớ là
CAN SLIM, trong đó mỗi chữ cái đặc trưng cho một yếu tố.


Phân tích cơ bản: là những số liệu và thống kê đằng sau mỗi cổ phiếu. Phân tích cơ bản đánh
giá lợi nhuận, doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, lợi nhuận biên, bảng cân đối kế toán, thị
phần v.v… cũng như đánh giá về các sản phẩm của công ty, đội ngũ quản lý, và thực trạng của
doanh nghiệp. Phân tích cơ bản xác định chất lượng và sức hấp dẫn của cổ phiếu.
Giao dịch kỳ hạn: Một phương thức đầu tư mang tính đầu cơ, rủi ro cao không nên tiến hành
nếu không có sự hiểu biết chắc chắn về thị trường và một phương pháp quản lý tài chính hiệu
quả. Giao dịch kỳ hạn là những hợp đồng dựa trên sự giao hàng ở một thời điểm và mức giá
nào đó trong tương lai. Phương thức này thường được giao dịch trong 3 lĩnh vực: giao dịch có
kỳ hạn hàng hoá, giao dịch có kỳ hạn tài chính và giao dịch có kỳ hạn chỉ số.
Khoảng cách (về giá): Giá cổ phiếu ở phiên mở cửa và khối lượng giao dịch cao hơn hoặc thấp
hơn một vài điểm so với phiên giao dịch ngày hôm trước. Khoảng cách này dễ dàng được nhận
ra qua những biểu đồ biến động giá cổ phiếu hàng ngày. Có hai loại khoảng cách: khoảng rời bỏ
- xảy ra ngay sau khi cổ phiếu ra khỏi mô hình, khoảng chân không - xảy ra sau khi cổ phiếu
tăng giá trong nhiều tuần và gần chạm đỉnh.


Thị trường chung: Những chỉ số đại diện cho bức tranh toàn cảnh của thị trường chứng
khoán. Một số chỉ số thị trường chung phổ biến nhất là Dow Jones, Nasdaq, và S&P 500.
Trang “Thị trường chung và các lĩnh vực”: Chỉ có trên tờ Investor’s Business Daily, gồm
những biểu đồ lớn của mỗi chỉ số thị trường chính, được sắp xếp theo thứ tự từ trên xuống
dưới nên dễ dàng nhận ra xu hướng phát triển và sự thay đổi của thị trường. Trang này còn có
mục “Toàn cảnh”, các biểu đồ ngành, Chỉ số Quỹ tương hỗ IBD.


Danh sách “Nhóm có tỷ lệ phần trăm cổ phiếu đạt giá trần mới lớn nhất”: Một mục trên
trang “Các nhóm ngành” của tờ
Investor’s Business Daily, là cách nhanh nhất để nhận ra tốp 4
hoặc 5 ngành thật sự dẫn đầu trong toàn bộ thị trường.


Quỹ tăng trưởng: Quỹ tương hỗ chủ yếu sở hữu những cổ phiếu tăng trưởng.

Cổ phiếu/nhóm ngành/lĩnh vực tăng trưởng (và đầu tư cổ phiếu tăng trưởng): Các công
ty, các ngành, các lĩnh vực có tăng trưởng mạnh về doanh thu và lợi nhuận trong một thời gian
dài. Cổ phiếu tăng trưởng thường không chia cổ tức. Khoản vốn này được tái đầu tư vào công
ty để tiếp tục tăng trưởng trong tương lai. Thông thường 3 trong số 4 cổ phiếu thành công lớn
trên thị trường là cổ phiếu tăng trưởng.


Tay cầm: Là một phần của mô hình “Chiếc cốc có tay cầm” của Bill O’Neil. Tay cầm thể hiện
giai đoạn cuối của mô hình. Phần tay cầm có thể kéo dài một đến 2 tuần, hay lâu hơn, và cần
phải giảm xuống giá sàn hoặc đảo chiều. Giai đoạn này đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của thị
trường. Những tay cầm hợp lý hiếm khi giảm giá xuống hơn 10% hoặc 15%. Điều này thể hiện
sự sụt giảm khối lượng giao dịch (cổ phiếu không được bán ra) hoặc giá biến động không đáng
kể và trong vài tuần giá đóng cửa không thay đổi.


Làm giàu qua chứng khoán: Là một cuốn sách về đầu tư bán chạy nhất của William J. O’Neil.
Nó chỉ ra cách mua và bán cổ phiếu sử dụng chiến lược đầu tư CAN SLIM.


Mức giá trần và mức giá sàn trong ngày (hoặc trong tuần): Thể hiện bằng đồ thị cột về sự
biến động giá cổ phiếu trong ngày (hoặc tuần) dựa trên 3 biến số. Đỉnh của cột biểu hiện giá
cao nhất mà cổ phiếu giao dịch trong ngày (hoặc tuần): đó là mức giá trần trong ngày. Đáy của
cột biểu hiện mức giá thấp trong ngày (hoặc tuần): đó là mức giá sàn trong ngày. Đường cắt
nhau cho biết giá đóng cửa của cổ phiếu trong ngày (hoặc tuần).


Investor’s Business Daily: Một công cụ nghiên cứu tiết kiệm thời gian cho nhà đầu tư nhờ sử
dụng các số liệu đã được vi tính hoá. Những thông tin độc quyền này là kết quả của quá trình
“45 năm nghiên cứu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng khoán” của
William J.O’Neil. Tờ
Investor’s Business Daily cũng cung cấp nhiều chuyên mục với những kiến
thức bổ ích giúp các cá nhân cả trong công việc cũng như trong cuộc sống.


Hướng dẫn đầu tư của tờ Investor’s Business Daily: Do các biên tập viên của tờ Investor’s
Business Daily
viết, cung cấp những thông tin cơ bản giúp các nhà đầu tư thành công hơn trên
thị trường. Nó giải thích chi tiết những loại hình đầu tư khác nhau ngày nay và hướng dẫn cách
thức sử dụng phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật, cũng như các mục trên tờ
Investor’s Business
Daily
, để nhà đầu tư có thể đưa ra những quyết định khôn ngoan hơn.

Chỉ số IBD SmartSelectTM: 5 chỉ số độc quyền không chỉ có tác dụng chỉ ra những cổ phiếu
không đạt tiêu chuẩn, mà còn tìm ra những cổ phiếu tiềm năng. Đồng thời là công cụ cải thiện
kỹ năng lựa chọn cổ phiếu cũng như tiết kiệm thời gian cho các nhà đầu tư. Đó là:
Chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Chỉ số sức mạnh giá tương đối (RS)
Chỉ số sức mạnh tương đối nhóm ngành
Chỉ số Doanh thu + Lợi nhuận biên + Lợi nhuận trên vốn cổ phần (SMR)

Chỉ số tích luỹ/phân phối

Nhóm ngành: Bao gồm một số công ty riêng lẻ cung cấp những sản phẩm và dịch vụ giống
nhau. Các ngành thường cụ thể hơn các lĩnh vực.
Nhóm ngành và ký hiệu: do tờ Investor’s Business Daily xuất bản, liệt kê cổ phiếu của 197
nhóm ngành, được sắp xếp theo 3 tiêu chí (tên công ty, ký hiệu, nhóm ngành).


Chuyên mục “Biến động giá của các ngành”: Chuyên mục thường nhật của tờ Investor’s
Business Daily
, xếp hạng 197 nhóm ngành dựa trên diễn biến giá trong 6 tháng vừa qua, cho
phép bạn dễ dàng nhận ra những ngành nghề có kết quả hoạt động tốt nhất và kém nhất. 197
nhóm ngành này là sản phẩm độc quyền của tờ
Investor’s Business Daily.

Chỉ số sức mạnh tương đối nhóm ngành: Chỉ số độc quyền của tờ Investor’s Business Daily so
sánh diễn biến giá của một nhóm ngành trong 6 tháng qua với 196 nhóm ngành còn lại (trong
tổng số 197 nhóm). Được xếp hạng từ A đến E, những cổ phiếu được xếp hạng A sẽ nằm trong
số những cổ phiếu của nhóm ngành hoạt động hiệu quả nhất và E thuộc về nhóm ngành hoạt
động kém nhất.


Phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO): Các công ty phát hành cổ phiếu lần đầu ra
công chúng vì rất nhiều lý do khác nhau (để giảm nợ, nghiên cứu và phát triển, mở rộng…). Cổ
phiếu được bán cho các ngân hàng đầu tư, sau đó ngân hàng bán ra cho công chúng thông qua
các công ty môi giới chứng khoán. Nghiên cứu cho thấy rằng đa số những cổ phiếu hoạt động
hiệu quả nhất thường bắt đầu tăng trưởng mạnh trong 8 năm kể từ khi phát hành ra công
chúng lần đầu.


Những nhà đầu tư tổ chức: Các quỹ tương hỗ, các ngân hàng, các quỹ hưu trí, các công ty bảo
hiểm v.v… tham gia vào lĩnh vực đầu tư. Họ tiến hành những giao dịch trên thị trường, và tác
động đến giá cổ phiếu cũng như diễn biến thị trường.


Bảo trợ của các tổ chức: Số lượng cổ phiếu của một công ty do các tổ chức lớn sở hữu. Nguồn
cầu lớn nhất của cổ phiếu xuất phát từ những quỹ tương hỗ và những nhà đầu tư tổ chức. Khi
bạn định mua cổ phiếu, quan trọng là phải có các tổ chức bảo trợ cổ phiếu đó.
Tỷ lệ lãi suất: Cho biết những mức giá khác nhau mà ngân hàng hoặc các tổ chức khác áp dụng
cho khách hàng vay tiền.


Dẫn đầu hay tụt hậu: Nói đến những công ty hay những nhóm ngành đang hoạt động hiệu
quả hơn hay kém hơn mức trung bình của thị trường. Để tìm ra những cổ phiếu của những
nhóm ngành dẫn đầu, phải xem xét chỉ số sức mạnh giá tương đối và chỉ số sức mạnh tương
đối nhóm ngành trên tờ
Investor’s Business Daily.

Phí quản lý (đối với các quỹ tương hỗ): Một khoản phí nhỏ, thường ở mức 0,5% hoặc 1%
mỗi năm, trả cho đội ngũ quản lý của các quỹ tương hỗ để điều hành và quản lý danh mục đầu
tư của quỹ.


Chủ sở hữu quản lý: Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu thường mà ban quản lý công ty sở hữu. Tỷ lệ
này càng cao thì càng chứng tỏ họ tận tâm với công ty.


Tài khoản tiền bảo chứng: Là tài khoản giao dịch môi giới cho phép bạn sử dụng tiền đi vay
từ các công ty môi giới khi mua bán cổ phiếu.


Đáy thị trường: Là giai đoạn toàn bộ thị trường đạt điểm thấp trước khi chuyển hướng sang
giai đoạn phục hồi.


“Những chỉ số lĩnh vực thị trường”: Những biểu đồ nhóm ngành hàng ngày trên tờ Investor’s
Business Daily
trong trang “Thị trường chung và các lĩnh vực”, và “Các nhóm ngành”. Bao gồm
những ngành chính như hàng thiết yếu Dow Jones, công nghệ cao và an toàn… được sắp xếp
theo chỉ số sức mạnh tương đối. Rất hữu ích trong việc tìm kiếm những ngành đang dẫn đầu
thị trường.


Những nhà quản lý quỹ: Các chuyên gia quản lý danh mục đầu tư của các tổ chức như quỹ
tương hỗ, ngân hàng, quỹ hưu trí hay công ty bảo hiểm.


Các quỹ thị trường tiền tệ: Là các quỹ đầu tư hàng đầu vào trái phiếu kho bạc (T-bills) và
những khoản nợ chính phủ.
Quỹ tương hỗ: Một danh mục đa 
dạng hoá cổ phiếu do một công ty đầu tư chuyên nghiệp
quản lý với khoản phí quản lý nhỏ.


Chỉ số Quỹ tương hỗ: Chỉ số độc quyền của quỹ tăng trưởng nội địa, xuất hiện hàng ngày trên
trang “Thị trường chung và các lĩnh vực” của tờ
Investor’s Business Daily. Nó có thể được sử
dụng như một chỉ dẫn thị trường chung giống như một số chỉ số cơ bản khác.
Chỉ số Nasdaq: Chỉ số của Hiệp hội quốc gia những nhà kinh doanh chứng khoán, thể hiện sự
biến động của cổ phiếu.
Thị trường Nasdaq: Hệ thống máy tính nối mạng toàn cầu mà ở đó các cổ phiếu được giao
dịch ngoài sở giao dịch, không giống như Thị trường chứng khoán New York (NYSE) - nơi cổ
phiếu phải được giao dịch trực tiếp trên sàn giao dịch.


Giá trị tài sản ròng: Được đưa vào xem xét chi phí quản lý quỹ, là giá trị trên mỗi cổ phiếu của
tài sản quỹ.


Giá trần mới: Đề cập đến một cổ phiếu đạt mức giá trần mới khi so sánh với mức giá trần cũ
trong 52 tuần trước đó.


Thị trường chứng khoán New York (NYSE): Được thành lập năm 1792, là một thị trường lâu
đời nhất và lớn nhất của Mỹ - nơi người mua và người bán giao dịch thông qua các nhà môi
giới. Trụ sở của thị trường này nằm trên phố Wall, thành phố New York.


Khái niệm “ngày lấy đà 1%”: Khái niệm do William J. O’Neil phát triển nhằm nhận biết
những thay đổi quan trọng trong xu hướng thị trường chung (giảm hay tăng). Từ lúc bắt đầu
giai đoạn phục hồi trong xu hướng giảm, một ngày “lấy đà” được xác định khi chỉ số đóng cửa
tăng 1% hoặc hơn trong ngày có khối lượng giao dịch tăng đáng kể so với phiên giao dịch của
ngày hôm trước. Hai hoặc 3 ngày đầu tiên trong giai đoạn phục hồi chưa chứng tỏ là sẽ phục
hồi và “lấy đà” thành công. Do đó, ngày “lấy đà” thường xảy ra vào ngày thứ tư trong giai đoạn
7 ngày phục hồi. Ngày “lấy đà” khẳng định thị trường thay đổi thật sự và chuẩn bị một xu

hướng tăng mới.

Quyền chọn: Hợp đồng mua vào hay bán ra cổ phiếu ở mức giá cụ thể trong một thời điểm cụ
thể trong tương lai. Quyền lựa chọn thường biến động và có rủi ro cao.
Giao dịch trên giấy: là giao dịch ảo giống như đang giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán
nhưng không sử dụng tiền thật. Giao dịch ảo không có cảm giác hy vọng và lo sợ như khi đầu tư
thật sự.


Điểm mua: Điểm mua tốt nhất của cổ phiếu xuất hiện từ mô hình biểu đồ hợp lý (các mô hình
phổ biến nhất là “chiếc cốc có tay cầm”, “hai đáy” và “bằng phẳng”) và đạt mức giá trần mới.
Đây là điểm có mức kháng cự thấp nhất và thông qua nghiên cứu của William J. O’Neil, có cơ
hội lớn để giá và khối lượng giao dịch tăng cao hơn so với hiện tại và quá khứ.
Quản lý danh mục đầu tư: Đề cập đến số lượng cổ phiếu bạn đang sở hữu và các phương
pháp, chiến lược để mua thêm, cắt giảm hay bán cổ phiếu; cách thay đổi danh mục đầu tư và
đưa ra những quyết định kịp thời.


Hậu phân tích: Là một quá trình quan trọng nhằm đánh giá thành công và thất bại trên thị
trường chứng khoán thông qua nghiên cứu những hoạt động mua vào, bán ra trước đó trong
một giai đoạn cụ thể và chỉ ra được những cổ phiếu đem lại lợi nhuận và những cổ phiếu thua
lỗ. Hậu phân tích cho phép các nhà đầu tư nâng cao hiệu quả đầu tư trong tương lai nhờ học
hỏi những thất bại trong quá khứ.


Tỷ số giá trên lợi nhuận (P/E): Đánh giá giá trị của một cổ phiếu bằng cách chia giá hiện tại
của cổ phiếu với lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu trong 12 tháng qua. Khi tỷ số P/E của cổ phiếu
cao, giá của cổ phiếu sẽ được các nhà đầu tư cho là quá cao. Cổ phiếu có P/E thấp thường được
xem là có giá trị tốt. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị
trường, William J. O’Neil phát hiện ra một sự thật trái ngược là: cổ phiếu có P/E càng cao thì
càng tốt. Mức P/E trung bình của những cổ phiếu thành công nhất trong 15 năm qua tại điểm
mua đầu tiên trước khi chúng tăng giá gấp 31 lần lợi nhuận. Nhưng tỷ số P/E này còn có thể
lớn hơn 100%, tức là gấp 70 lần lợi nhuận khi các cổ phiếu tăng giá đáng kể. Nhiều nhà đầu tư
thường hiểu lầm và sử dụng sai tỷ số P/E.


Giá trị sổ sách: So sánh giá trị của cổ phiếu trên thị trường (được xác định bằng giá hiện tại
của cổ phiếu) với giá trị tổng tài sản của công ty thấp hơn tổng số nợ của công ty (giá trị sổ
sách). Dựa vào “45 năm nghiên cứu những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng
khoán” của William J. O’Neil, phương pháp này không có ý nghĩa gì đối với những cổ phiếu
hàng đầu.


Biểu đồ giá và khối lượng giao dịch: Những biểu đồ hàng tuần, hàng ngày, hàng tháng phản
ánh diễn biến giá và khối lượng giao dịch của cổ phiếu. Hầu hết các nhà đầu tư chuyên nghiệp
đều sử dụng chúng trong việc lựa chọn cổ phiếu.


Đường giá trên biểu đồ: Thanh ngang trên biểu đồ thể hiện lịch sử giá của cổ phiếu. Mỗi
đường thẳng đứng thể hiện diễn biến giá trong một ngày (hoặc tuần), chỉ ra mức giá cao nhất
và thấp nhất của cổ phiếu giao dịch trong ngày (hoặc tuần đó). Những đường cắt ngang thể
hiện giá đóng cửa của cổ phiếu trong cùng khoảng thời gian.


Xu hướng tăng trước đó: Khái niệm được những nhà đầu tư nghiên cứu biểu đồ sử dụng để
xác định xu hướng biến động của giá cổ phiếu trong vài tháng dựa trên cơ sở giá của những
tháng trước đó. Những cổ phiếu tiềm năng nhìn chung thường cho thấy xu thế tăng trước đó
và ngược lại.


Báo cáo lợi nhuận và thua lỗ: Là báo cáo hàng quý hoặc hàng năm, cho biết khả năng sinh lợi,
doanh thu và chi phí của doanh nghiệp.


Lợi nhuận biên (trước thuế, sau thuế): Phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, thể
hiện dưới dạng phần trăm. Lợi nhuận biên cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng sinh lợi tốt.
Có thể được tính toán bằng cách chia lợi nhuận trước thuế (lợi nhuận biên trước thuế) hoặc lợi
nhuận sau thuế (lợi nhuận biên sau thuế) của doanh nghiệp cho tổng thu nhập.


Bản cáo bạch: Là bản thông tin chính thức được các công ty hay các quỹ tương hỗ công bố
theo yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán (SEC). Bản cáo bạch bao gồm các chiến lược/mục tiêu
đầu tư, kế hoạch, các số liệu ngắn hạn hoặc dài hạn, rủi ro, cạnh tranh, cổ phần, thông tin về
ban quản lý của một công ty hay một quỹ.


Những chỉ số thị trường đo lường tâm lý: Những chỉ số kỹ thuật như tỷ số giữa khối lượng
mua vào và bán ra, hay tỷ lệ phần trăm những cố vấn thị trường đánh giá thị trường đang lên
hay xuống có thể đo lường tâm lý của các nhà đầu tư.


Tỷ số mua – bán: Là khối lượng giao dịch quyền chọn mua chia cho khối lượng giao dịch
quyền chọn bán trên thị trường. Tỷ số mua – bán cao (mua nhiều hơn bán) là dấu hiệu thị
trường sụt giá và ngược lại.


Sự phục hồi (và sự phục hồi giả): Là một nỗ lực phục hồi của một cổ phiếu hoặc thị trường
chung để tăng giá trở lại sau thời gian suy giảm. Phục hồi thành công thường được phản ánh
thông qua sự tăng giá đều đặn với khối lượng giao dịch lớn hơn mức trung bình. Phục hồi giả là
khi giá tăng lên nhưng khối lượng giao dịch không tăng, cho thấy cổ phiếu đang không được
mua vào nhiều trên thị trường. Sự phục hồi giả thường không kéo dài và không trở lại được
mức giá ban đầu.


Đường sức mạnh tương đối: Đường này có trên tất cả các biểu đồ chất lượng tốt. Nó so sánh
diễn biến giá của một cổ phiếu với toàn thị trường. Nếu đường sức mạnh tương đối có xu
hướng đi lên, các cổ phiếu có xu hướng hoạt động tốt hơn ở thị trường rộng lớn hơn (như S&P
500). Nếu xuất hiện xu hướng đi xuống, tức là cổ phiếu tụt lại phía sau thị trường. Nhà đầu tư
khôn ngoan thường tránh những cổ phiếu có đường sức mạnh tương đối theo xu hướng đi
xuống.


Chỉ số sức mạnh giá tương đối (RS) (hay Sức mạnh tương đối): Là chỉ số độc quyền của tờInvestor’s Business Daily. Chỉ số này đo diễn biến giá của mỗi cổ phiếu trong 12 tháng gần đây
với tất cả các cổ phiếu khác. Những cổ phiếu có chỉ số RS dưới 70 cho thấy nó là một cổ phiếu
hoạt động kém hiệu quả hơn.


Lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE): Là chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn tài chính của
công ty. Những cổ phiếu từng thành công nhất trên thị trường chứng khoán thường có chỉ số
ROE từ 17 đến 50% trước khi thu được lợi nhuận lớn.


Tăng trưởng doanh thu: Là tỷ lệ tăng trưởng doanh thu hàng năm hoặc hàng quý của công ty.
Nó đánh giá mức tăng trưởng và sự thành công của công ty cũng như mức tăng trưởng lợi
nhuận trên mỗi cổ phiếu.


Chỉ số doanh thu + Lợi nhuận biên + ROE (SMR): Là chỉ số độc quyền của tờ Investor’s
Business Daily
nhằm giúp những nhà đầu tư nhận ra công ty có tăng trưởng doanh thu, lợi
nhuận biên và lợi nhuận trên vốn cổ phần lớn khi so sánh với các công ty khác không. Chỉ số
này được xếp từ A đến E, với A là tốp 20% dẫn đầu về doanh thu, lợi nhuận biên và ROE; B là
tốp 40% v.v… Đây là một trong 5 chỉ số của
SmartSelectTM.

Các lĩnh vực: Bao gồm một số các nhóm ngành. Chẳng hạn như, lĩnh vực công nghệ cao hoặc
tiêu dùng có thể bao gồm một số ngành khác nhau.
Biểu đồ các lĩnh vực: Xuất hiện trên trang “Thị trường chung và các lĩnh vực” của tờ Investor’s
Business Daily
. Biểu đồ này chỉ ra tỷ lệ phần trăm tăng trưởng trong 3 tháng gần đây nhất của
các lĩnh vực dẫn đầu. Biểu đồ các lĩnh vực rất có ích, giúp các nhà đầu tư xác định sức mạnh của
mỗi lĩnh vực.


Uỷ ban chứng khoán (SEC): Một cơ quan của chính phủ điều hành và kiểm soát các giao dịch
chứng khoán.
Đảo chiều: Sự điều chỉnh giá mạnh của cổ phiếu (thường là dưới điểm giá hiện tại) trước khi
tăng giá trở lại
Bán khống: Các nhà đầu tư vay mượn cổ phiếu của các công ty môi giới và bán với hy vọng cổ
phiếu sẽ giảm giá để mua lại số cổ phiếu đó với giá thấp hơn giá họ bán ra. Nhờ đó, họ kiếm
tiền bằng cách hưởng chênh lệch giữa mức giá bán ban đầu và mức giá mua thấp hơn. Bán
khống là một việc làm khó và thường không dành cho những nhà đầu tư mới hay ít kinh
nghiệm.


Những cổ phiếu vốn nhỏ: Là cổ phiếu của những công ty có một số lượng nhỏ cổ phiếu
thường sáng giá


Chỉ số bảo trợ: Là chỉ số trên tờ Investor’s Business Daily giúp các nhà đầu tư biết được cổ
phiếu mình sở hữu có được các quỹ tương hỗ mua vào ở thời điểm hiện tại không. Chỉ số này
được xếp từ A đến E, với A là tốp 20% cổ phiếu hoạt động tốt và được nhiều quỹ sở hữu, B là
tốp 40%, v.v…


Chênh lệch giá: Là khoảng cách chênh lệch giữa giá chào bán và giá đặt mua của một cổ phiếu.
Tất cả những cổ phiếu ở thị trường chứng khoán New York và Nasdaq đều có sự khác biệt về
mức giá chào bán và giá đặt mua.
“Giai đoạn” của mô hình: Thuật ngữ đề cập đến số giai đoạn của các mô hình mà một cổ
phiếu hình thành khi nó tăng giá. Những cổ phiếu tăng giá thành công trong một năm có thể
bao gồm 2, 3 hoặc 4 mô hình tăng giá trước khi bước vào giai đoạn giảm giá. Mô hình đầu tiên
được nói đến như một mô hình “giai đoạn đầu tiên”, mô hình thứ hai được coi như “giai đoạn
thứ hai”…

Chững giá (trên một trong số các chỉ số): Thuật ngữ chỉ ra một diễn biến giá xảy ra trong một
trong số các chỉ số thị trường chung (như chỉ số Dow Jones, S&P 500 hay Nasdaq). Nó xảy ra
khi giá đóng cửa tăng không đáng kể, không thay đổi hoặc giảm nhẹ trong khi khối lượng giao
dịch tăng từ ngày hôm trước (sau khi tăng đáng kể trong một vài ngày). Điều này cho thấy sự
phân phối hoặc bán ra của chỉ số ở điểm đó.
Standard & Poor 500 (S&P 500): Là chỉ số của 500 công ty chính, trong đó có 400 công ty
công nghiệp, 20 công ty vận tải, 40 công ty hàng tiêu dùng, và 40 công ty tài chính. Chỉ số này
đo lường giá trị thị trường.
Phân tích kỹ thuật: Nghiên cứu giá và khối lượng giao dịch của cổ phiếu thông qua việc sử
dụng các biểu đồ để phân tích hoạt động giao dịch trên thị trường.
10K/10Q: 10K là một bản báo cáo hàng năm, 10Q là báo cáo hàng quý theo yêu cầu của Uỷ
ban chứng khoán. Chúng cung cấp thông tin toàn diện về hoạt động kinh doanh của công ty
trong thời gian gần đây.


Chỉ số hoạt động quỹ tương hỗ trong 36 tháng: Được xếp theo thứ tự (từ A+ tới E) theo dõi
quá trình hoạt động trong 3 năm của các quỹ tương hỗ. Những quỹ xếp hạng A+ nằm trong
nhóm 5% quỹ hoạt động tốt nhất, quỹ xếp hạng A nằm trong tốp 10% v.v…


Cổ phiếu đã xoay vòng: Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong một thời gian nhưng
hiện tại có doanh thu và lợi nhuận tăng trở lại do có ban quản lý mới, sản phẩm mới hoặc
những cải tiến mới. Trong quá khứ, chỉ có 1 trong 4 cổ phiếu thành công nhất đi lên từ tình
trạng xoay vòng.


Chỉ số doanh thu: Số lượng cổ phiếu giao dịch trong một năm như tỷ lệ phần trăm cổ phiếu do
một quỹ tương hỗ sở hữu, chỉ ra hoạt động giao dịch của quỹ. Nhiều quỹ tăng trưởng mạnh mẽ
có chỉ số doanh thu cao.


Đầu tư giá trị: Là chiến lược đầu tư tập trung vào các công ty bị đánh giá thấp (tỷ số P/E thấp,
giá trị trên sổ sách thấp v.v…). Nó chủ yếu tập trung vào những yếu tố cơ bản và ít tập trung
vào những yếu tố kỹ thuật. Các cổ phiếu giá trị được coi như những cổ phiếu giá rẻ và chất
lượng tốt. Một quỹ giá trị là một quỹ tương hỗ đầu tư vào những cổ phiếu bị đánh giá thấp.
Tính không ổn định: Là thước đo sự không ổn định về giá của cổ phiếu. Nó đặc trưng bằng
việc giá dao động lên xuống thường xuyên.
Khối lượng giao dịch: Cho thấy số lượng cổ ph
iếu được giao dịch hàng ngày hoặc hàng tuần.
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức cung cầu của cổ phiếu.
Tỷ lệ phần trăm thay đổi khối lượng giao dịch: Cho biết những giao dịch bất thường của
một cổ phiếu. Phương pháp này đo khối lượng giao dịch trung bình hàng ngày so với khối
lượng giao dịch 50 ngày trước đó và chỉ cho bạn khối lượng giao dịch nhiều hơn hay ít hơn
mức trung bình ngày hôm qua. Nó giúp bạn nhận ra dòng tiền của những nhà đầu tư tổ chức đổ
vào và rút ra khỏi một cổ phiếu như thế nào.


Mục “Nơi dòng tiền chảy nhiều nhất”: Là mục quan trọng trong tờ Investor’s Business Daily
(ở đầu các bảng cổ phiếu NYSE và Nasdaq) đánh dấu các cổ phiếu có tỷ lệ phần trăm khối
lượng giao dịch tăng lớn nhất so với những ngày trước đó. Đó thường là dấu hiệu chỉ ra những
nhà đầu tư tổ chức mua vào hoặc bán ra cổ phiếu.


William O’Neil + Co.,: Được thành lập vào năm 1963, là công ty đầu tiên cung cấp cơ sở dữ
liệu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng khoán Mỹ từ năm 1953. Ngày
nay, những nghiên cứu về chứng khoán của công ty đã được vi tính hoá cho hơn 400 nhà đầu
tư tổ chức lớn trên toàn thế giới sử dụng