• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2022

NHẬN DIỆN RỦI RO “GIAN LẬN BCTC” QUA HÀNG TỒN KHO VÀ KHOẢN PHẢI THU

Chỉ số dùng để nhận biết có dấu hiệu gian lận BCTC: Hàng tồn kho/giá vốn hàng bán.

Công thức tính: Hàng tồn kho ÷ giá vốn hàng bán

DN chỉ đáng tin cậy khi tỷ số trên:

Tỷ số < 150% đối với DN bán hàng trong nước;

Tỷ số < 200% đối với DN xuất khẩu.

Nếu tỷ số lớn hơn 2 mức trên thì khả năng cao có rủi ro phía trước.

-------------------

VÍ DỤ: TTF – NHẬN DIỆN RỦI RO ĐỂ NÉ TRÁNH TRƯỚC KHI XUẤT HIỆN SCANDAL NĂM 2016

Nhắc lại bối cảnh:

Trước khi cty kiểm toán EY vào kiểm toán BCTC 6 tháng đầu năm 2016 và nhận ra sự bất thường trong khoản mục hàng tồn kho.

Nhắc lại một chút về cú ngã của Gỗ Trường Thành, trong thuyết minh giá vốn 6 tháng đầu năm 2016 của TTF đột ngột xuất hiện khoản mục “Hàng tồn kho phát hiện thiếu khi kiểm kê” lên tới 980 tỷ đồng.

Phát hiện này đã dẫn đến việc điều chỉnh thẳng vào chi phí giá vốn quý 2/2016 của TTF khiến cho giá vốn trong 6 tháng đầu năm 2016 tăng vọt lên mức 1.690 tỷ đồng – cao gấp đôi doanh thu. Do đó, TTF lỗ gộp tới 807 tỷ đồng và lỗ ròng 1.073 tỷ đồng.

Hệ quả là giá cổ phiếu giảm liên tục mất thanh khoản 26 phiên liên tiếp.

----------------------

Vậy đâu là dấu hiệu giúp NĐT né tránh những cổ phiếu này?

Đương nhiên phải kết hợp nhiều yếu tố để thấy được toàn cảnh bức tranh tài chính lớn của DN bao gồm: Nợ vay, phải thu, hàng tồn kho, dòng tiền...

1 trong số đó là chỉ số HTK/giá vốn hàng bán (Như đã tính toán trên hình 2).

Từ giai đoạn 2014 HTK/giá vốn hàng bán của TTF luôn trên mức rủi ro rất cao, đối với 1 DN sản xuất thì hàng tồn kho tích trữ quá lớn so với bán hàng dễ dẫn tới việc:

(1) Thành phẩm bị hư hại hoặc lỗi thời;

(2) Tình hình bán hàng gặp nhiều khó khăn;

(3) Trong trường xấu nhất (như TTF) là những thủ thuật thổi phồng HTK nhằm những mục đích vì lợi ích riêng của giới chủ.

Khi nhìn vào con số lớn đáng báo động này chúng ta phải cảnh giác và phương án tốt nhất là tránh xa nếu không thực sự nắm rõ câu chuyện đằng sau.

Tuy nhiên, không phải đơn giản cho những NĐT đứng ngoài cuộc chơi mặc dù họ nhận biết được rủi ro. Vấn đề lớn nhất là lòng THAM, 1 cơn sóng tăng của TTF trước đó và những câu chuyện tăng trưởng được thổi phồng mọi nơi đã che đi những con số đáng nghi ngờ trên BCTC.

“Thành công trong đầu tư không tương quan với IQ … điều bạn cần là khí chất để kiểm soát những thôi thúc khiến người khác gặp rắc rối trong đầu tư.” – Warren Buffett




Nhận diện rủi ro “Gian lận BCTC” từ mục KHOẢN PHẢI THU

Phải thu là khoản DN đã cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng nhưng chưa thu lại được tiền để hoạch toán vào doanh thu.
--------------------
Chỉ số dùng để nhận biết có dấu hiệu gian lận BCTC và công thức tính:
PHẢI THU (phải thu ngắn hạn + phải thu dài hạn) ÷ DOANH THU
DN chỉ đáng tin cậy khi tỷ số trên:
Tỷ số < 50% đối với DN bán hàng trong nước;
Tỷ số < 100% đối với DN xuất khẩu. 
Nếu tỷ số lớn hơn 2 mức trên thì khả năng cao có rủi ro.
2 lý do thường dẫn tới khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản:
(i) Tài chính của khách hàng yếu kém;
(ii) Doanh nghiệp không có năng lực thương lượng, đàm phán cao vì vậy bị khách hàng chiếm dụng vốn lớn;
(iii) Cho vay bên thứ 3 (thường là “sân sau” của ban lãnh đạo).
----------------
VÍ DỤ: FLC
Trước khi rộ scandal bán chui cổ phiếu của Chủ Tịch tập đoàn FLC dẫn tới giá cổ phiếu lao dốc không phanh. Nhìn vào khoản phải thu/Doanh thu thuần giai đoạn trước đó đã đưa ra tín hiệu báo hiệu có sự rủi ro.
Chỉ số khoản phải thu/DTT luôn vượt ngưỡng cho phép, thậm chí đạt mức rất cao > 300% so với mức chấp nhận khoảng 50%. (HÌNH 1).
Đi sâu vào phân tích khoản phải thu của FLC (đọc thuyết minh BCTC – Lấy ví dụ BCTC hợp nhất 2020). Thì chúng ta nhận ra được điều bất thường khi mà các khoản phải thu tập trung chính vào việc “Cho vay các bên thứ 3”. (HÌNH 2, 3).
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao FLC mang tiền lớn đi cho thuê các bên thứ 3 thay vì tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh? Liệu ở đây có dấu hiệu “rút ruột” cổ đông hay không?
Để tìm lời giải cho 2 câu hỏi này chúng ta xem xét:
Xem địa chỉ, người pháp nhân đại diện, ngày thành lập. Để xem có liên quan gì trong nội bộ không và mục đích ở đây là do chủ quan hay khách quan.
Ví dụ: Khoản cho vay của FLC liên quan tới CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHÚC THỊNH. Search trên google thì ra được địa chỉ và pháp nhân đại diện đều liên quan tới tập đoàn FLC
=> Cho vay bên liên quan, cổ đông nhỏ lẻ dễ bi thiệt hại từ những hoạt động này (HÌNH 4).






GAP & CÁCH GIAO DỊCH VỚI GAP

 Thuật ngữ GAP chắc hẳn không còn xa lạ với nhiều nhà đầu tư chứng khoán, chúng ta thường được nghe VNINDEX tạo GAP tăng hay giảm và có xu hướng lấp GAP, vậy GAP là gì? Nó có ý nghĩa như thế nào? Cách giao dịch với GAP? Có phải GAP nào cũng được lấp, và chúng ta có nên chờ thời điểm lấp GAP mới giao dịch?

Vì bài viết khá dài nên mình sẽ chia thành 2 phần và chia sẻ dần, hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu phần đầu tiên nhé.

GAP là gì?

GAP là khoảng trống giá giữa 2 phiên giao dịch (2 cây nến) liên tiếp, khoảng trống này được xác định bởi giá đóng cửa của cây nến phía trước và giá mở cửa của cây nến phía sau. Trong đó:

- Gap Up (Gap tăng giá): Xuất hiện khi giá mở cửa phiên sau cao hơn giá đóng cửa phiên trước.

- Gap Down (Gap giảm giá): Xuất hiện khi giá mở cửa phiên sau thấp hơn giá đóng cửa phiên trước.

Hiểu một cách đơn giản, GAP là một khoảng trống, xuất hiện khi giá đột ngột biến đổi, tạo ra một cú nhảy vọt tăng hoặc giảm về giá (Hình 1)

Các loại GAP trong chứng khoán

Trong phân tích kỹ thuật, GAP thường xuất hiện dưới 5 dạng khác nhau, mỗi dạng lại có đặc điểm và ý nghĩa riêng trong việc phân tích. 5 dạng GAP bao gồm:

Common GAP

Common GAP hay còn gọi là GAP thường, GAP phổ thông,… Loại này mang tính khoảng trống tạm thời, xuất hiện thường xuyên ngay cả trong điều kiện bình thường của thị trường chứng khoán. Common GAP thường xuất hiện khi cổ phiếu đi ngang và dao động trong các phạm vi hẹp (Sideway).

Thông thường, Common GAP sẽ được lấp đầy không lâu sau đó và không có đột biến về khối lượng giao dịch. Khoảng cách của GAP sẽ không quá cách biệt. GAP này được coi là tín hiệu khá yếu và không ảnh hưởng nhiều đến xu hướng giá.

Breakaway GAP

Breakaway GAP hay còn gọi là GAP phá vỡ, xảy ra khi giá phá vỡ vùng giao dịch ổn định, báo hiệu cho sự bắt đầu của một xu hướng mới, khi có các thông tin, sự kiện bất ngờ tác động lớn đến thị trường. Những thông tin này khiến tâm lý nhà đầu tư thay đổi nhanh chóng, xu hướng giá cũng chuyển sang hướng khác. Giá có thể đang đi ngang hoặc đang trong xu hướng tăng rồi đột ngột chuyển sang xu hướng giảm hoặc ngược lại.

Khoảng trống giá phá vỡ đi kèm với khối lượng giao dịch lớn cho thấy sự chuyển hướng mạnh mẽ của thị trường. Điểm phá vỡ sẽ trở thành ngưỡng hỗ trợ mới nếu khoảng trống giá phá vỡ đi lên. Trong trường hợp khoảng trống giá phá vỡ đi xuống, điểm phá vỡ sẽ thành ngưỡng kháng cự.

GAP phá vỡ có thể được lấp đầy hoặc không, nhưng nếu một đợt retest khoảng trống giá xuất hiện thì sẽ là một dấu hiệu tích cực mở ra cơ hội đầu tư sinh lời hiệu quả.

Runaway GAP

Runaway GAP (Continuation GAP) hay còn gọi là khoảng trống giá tiếp diễn thường xuất hiện ở giữa một xu hướng tăng/giảm đã được hình thành rõ rệt trước đó, và báo hiệu giá sẽ tiếp tục đi theo xu hướng hiện tại. Khoảng trống giá tiếp diễn có ít khả năng được lấp đầy và thường có khối lượng giao dịch vừa phải. GAP tiếp diễn sẽ là một GAP Up nếu trong một xu hướng tăng và ngược lại.

Khi xuất hiện trong xu hướng tăng, GAP tiếp diễn hay GAP Up cho thấy dấu hiệu bên mua đang chiếm ưu thế, những người đứng ngoài dần mất kiên nhẫn, họ không thể chờ đợi khi thấy giá tăng và quyết định mua vào vì cho rằng khả năng cao giá sẽ không điều chỉnh trở lại.

Ngược lại trong xu hướng giảm, GAP tiếp diễn hay GAP Down sẽ cho thấy bên bán đang chiếm ưu thế, tâm lý bi quan của những nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu khiến họ có xu hướng quyết định bán ra mạnh vì nghĩ rằng khả năng cao giá sẽ không phục hồi.

Quan sát với nhóm Thực phẩm vẫn chưa hết hot thời gian gần đây, điển hình với trường hợp của DBC (Hình 2), ta có thể dễ dàng nhìn thấy 2 loại GAP phá vỡ và GAP tiếp diễn. Sau khi hình thành cụm nến đảo chiều Morning Star ngày 23/6, cùng với giá thịt heo tăng do thiếu hụt nguồn cung và chi phí chăn nuôi tăng, DBC đã liên tục tăng mạnh tạo GAP. 2 GAP đầu báo hiệu cho sự đảo chiều, bắt đầu một xu hướng mới, đến GAP thứ 3 càng củng cố cho xu hướng này. Với xu hướng giá mạnh mẽ hiện tại, các khoảng trống có thể sẽ không được lấp đầy ngay.

Exhaustion GAP

Exhaustion GAP hay khoảng trống giá suy kiệt thường xuất hiện ở cuối một xu hướng tăng hoặc giảm, báo hiệu sự kết thúc của xu hướng hiện tại và bắt đầu một xu hướng mới. Khoảng trống giá suy kiệt thường đi kèm với khối lượng giao dịch lớn. Đồng thời, giá mở cửa của ngày hôm sau và giá đóng cửa của ngày hôm trước có sự chênh lệch lớn. Thông thường khi GAP kiệt sức xuất hiện thì phải một vài phiên sau mới chính thức tạo đỉnh hoặc đáy. Và vì GAP này nằm ở gần vị trí đỉnh, đáy do đó nó sẽ bị lấy đầy ngay sau đó một thời gian.

Exhaustion GAP với khối lượng giao dịch lớn (volume) là một dấu hiệu có tính xác nhận cao. Nhưng để đảm bảo được tính chính xác vẫn cần sự xác nhận của đường xu hướng. Các nhà đầu tư nên xem xét, canh bán cổ phiếu ở những phiên sau đó nếu xuất hiện tín hiệu nến tiêu cực hoặc canh mua khi có dấu hiệu đảo chiều từ giảm sang tăng.

Ví dụ với LCG (Hình 3) sau một xu hướng giảm kéo dài, phiên 16-17/6 giảm mạnh tạo GAP với khối lượng lớn hơn mức trung bình 20 phiên, sau đó đà giảm có phần chững lại, RSI quá bán, mở ra một đợt hồi phục, GAP kiệt sức được lấp đầy ngay sau đó. Hiện tại giá đang đi ngang và đã thoát khỏi xu hướng giảm, thuộc nhóm có trạng thái khỏe hơn thị trường chung những phiên gần đây, là cơ hội chúng ta có thể chú ý thời gian tới.

Island Reversal

Island Reversal (Hòn Đảo Đảo Chiều) là mô hình gồm một hoặc nhiều nến nằm cách biệt và ngăn cách với phần còn lại của biểu đồ bằng những khoảng trống (GAP). Mô hình này có thể xuất hiện trong cả hai xu hướng tăng hoặc giảm. Nếu xuất hiện khi giá tăng, mô hình cho tín hiệu đảo chiều sang giảm và ngược lại. (Hình 4-5)

Mô hình xuất hiện sau một xu hướng rõ ràng, tăng hay giảm đều được. Đầu tiên biểu đồ xuất hiện một khoảng trống. Sau khi tạo khoảng trống, giá tiếp tục di chuyển theo xu hướng và tạo ra một hoặc nhiều cụm nến di chuyển trong phạm vi nhất định. Khối lượng tăng dần và xu hướng giá bắt đầu yếu đi. Biểu đồ xuất hiện tiếp một khoảng trống và giá di chuyển ngược với xu hướng ban đầu.

Giao dịch với mô hình này chúng ta cần chắc chắn rằng các khoảng gap phải thật rõ ràng, đuôi các nến không được chồng lên nhau. Chúng ta sẽ tìm cơ hội thoát hàng khi mô hình xuất hiện tại đỉnh và mua lên khi nó xuất hiện tại đáy ngay khi mô hình tạo ra gap thứ hai. Trong trường hợp mua lên, chúng ta nên đặt stoploss phía dưới các đáy nến của mô hình.


Nguyên nhân xuất hiện GAP?

Xét trong điều kiện bình thường, giá đóng cửa của phiên trước đó sẽ là giá mở cửa của phiên ngay sau. Tuy nhiên, sự tăng giảm nhiều bước trong giá mở cửa của phiên sau so với giá đóng cửa của phiên trước sẽ tạo ra khoảng trống giá (GAP) trên biểu đồ.

Trên đồ thị, GAP thường xuất hiện trong những thời điểm sau:

Vào phiên giao dịch ngày thứ 2: Thị trường không giao dịch vào 2 ngày thứ 7 và chủ nhật. Trong thời gian nghỉ có thể xuất hiện những sự kiện đột ngột gây chấn động đến kinh tế hoặc chính trị… gây ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư, sự hưng phấn hay hoảng loạn quá mức sẽ tạo ra hiện tượng mở GAP trong chứng khoán.

Khi có thông tin nóng và bất ngờ gây ảnh hưởng lớn đến thị trường. Một số trường hợp có thể kể đến như: doanh nghiệp lớn phá sản, sự sáp nhập của 2 công ty lớn, tin tức vĩ mô ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến thị trường…

Ví dụ phiên giao dịch thứ Hai đầu tuần (13/06) đón nhận thông tin chỉ số CPI tháng 5 của Mỹ đạt đỉnh lịch sử 8,6%, mức cao nhất kể từ T12/1981 khiến các thị trường Mỹ và Châu Á đồng loạt lao dốc. Trước áp lực quá lớn như vậy, VN-Index không tránh khỏi phiên bán tháo mạnh của nhà đầu tư. Mở phiên tạo GAP giảm hơn 30 điểm và kể từ đó, giao dịch một chiều theo hướng đi xuống, cuối cùng đóng cửa thấp nhất ngày. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index rơi 57 điểm. Và sau gần 2 tháng giao dịch, giờ chỉ số mới bắt đầu quay trở lại và có xu hướng lấp GAP này. (Hình1)

Ngoài ra, vào các dịp nghỉ lễ với khối lượng giao dịch biến động thất thường cũng dễ gây xuất hiện GAP. Nguyên nhân bởi thời gian này các ngân hàng đều nghỉ lễ, tâm lý nhà đầu tư muốn rút tiền về.

Một lý do khác đó là phiên trước cổ phiếu tăng/giảm hết biên độ, chất trần bên mua hoặc chất sàn bên bán hàng triệu cổ, khối lượng đó được đẩy sang ngày hôm sau khiến lượng cung/cầu quá lớn ngay đầu phiên tạo GAP. Điều này có thể thường xuyên nhìn thấy ở những dòng cổ phiếu mang tính đầu cơ cao như họ FLC, TGG.. với những chuỗi trần sàn không lối thoát. Hay thêm 1 ví dụ gần nhất với cổ phiếu HSG phiên ngày hôm qua tăng trần từ sớm, thậm chí chất bên mua hơn 5 triệu cổ cuối phiên ATC. Tiếp nối lực mua này sang sáng ngày hôm nay, giá khớp ATO của HSG đã tăng tiếp gần 3% từ đầu phiên so với giá đóng của ngày hôm qua. (Hình 2)

Ý nghĩa của GAP

GAP được xem là một chỉ báo quan trọng trong phân tích chứng khoán, đóng vai trò hỗ trợ phân tích xu hướng giá cổ phiếu, thông tin về khối lượng của GAP cung cấp cho các nhà đầu tư tín hiệu về sức mạnh của giá, từ đó giúp chúng ta có thể quyết định các điểm vào lệnh, chốt lời, cắt lỗ chính xác.

Tuy nhiên không chỉ báo nào có sự chính xác tuyệt đối mà nó cũng chỉ mang tính xác suất. Do đó ta cần sử dụng kết hợp thêm một số chỉ báo khác trong phân tích kỹ thuật như RSI, các đường MA, kháng cự – hỗ trợ,.. để việc xác định xu hướng giá càng chính xác hơn, nắm được tâm lý của số đông trong thời điểm đó, từ đó đưa ra đánh giá chính xác cũng như quyết định giao dịch hợp lý.

Xu hướng lấp GAP trong chứng khoán

Xu hướng khoảng trống giá được lấp đầy có nghĩa là giá đã quay trở lại bằng với mức giá trước khi xuất hiện GAP. Hiện tượng này còn gọi là lấp GAP.

Khoảng trống giá thường bị lấp đầy do một vài nguyên nhân sau:

Sự tăng vọt bất thường của sức mua/bán: Sự tăng vọt bất thường của khối lượng mua/bán là một trong những nguyên nhân tạo GAP và tất yếu ngay sau đó giá sẽ điều chỉnh, dẫn đến lấp GAP. Nếu sự tăng vọt hay giảm mạnh của giá nhưng không kèm theo sự xuất hiện của ngưỡng hỗ trợ hay kháng cự nào thì lúc này hiện tượng lấp GAP có thể không xảy ra. Vì khi giá tăng/giảm mạnh, nó sẽ có xu hướng quay trở lại các vùng kháng cự và hỗ trợ để retest nhằm khẳng định xu hướng giá hiện tại trước khi tiếp tục tăng hoặc giảm. Sự điều chỉnh này là cơ hội để khoảng trống giá được lấp đầy.

Ngoài ra, các dạng GAP chính bản thân chúng cũng cho thấy khả năng lấp đầy khoảng trống. GAP kiệt sức có khả năng bị lấp đầy cao vì chúng báo hiệu sắp kết thúc một xu hướng. Còn GAP tiếp diễn và GAP phá vỡ thì xác nhận hướng của xu hướng hiện tại nên khả năng lấp đầy là khó hoặc chỉ lấp GAP một phần.

Tóm lại, hiện tượng lấp GAP có thể xảy ra hoặc không, lấp một phần hoặc lấp đầy. Và thời gian lấp GAP có thể là ngay lập tức khi GAP hình thành hoặc sau một vài phiên giao dịch sau đó hoặc thậm chí là khá lâu.

Trường hợp GAP hình thành tại các khu vực mô hình giá thì thông thường sẽ được lấp đầy nhằm hoàn thiện mô hình.

Cách giao dịch hiệu quả với GAP?

Vì không có một quy luật cụ thể nào cả nên việc vận dụng GAP trong giao dịch đòi hỏi phải thật cẩn trọng. Để đạt hiệu quả cao nhất, khi giao dịch với GAP, bên cạnh việc xác định khoảng thời gian lấp đầy thì chúng ta cần xác định GAP đó có nằm trong vùng hỗ trợ, kháng cự hay các mô hình giao dịch quen thuộc nào không.

Trong trường hợp GAP trùng với những mức cản này thì xu hướng giá sẽ quay lại để lấp GAP và cũng là để xác nhận lại chính xác trước khi tăng hoặc giảm theo xu hướng. Còn khi GAP xuất hiện tại các khu vực mô hình giá thường có xu hướng lấp đầy để hoàn thành mô hình.

Đối với hai loại GAP thường gặp như: Exhaustion GAP và Common GAP, khả năng lấp đầy là rất lớn, do đó, chúng ta cần học cách xác định các loại GAP này để quá trình giao dịch trở nên dễ dàng hơn.

Những lưu ý khi giao dịch với GAP?

GAP xuất hiện trên thị trường chứng khoán vì nhiều lý do, tuy nhiên, không phải lúc nào nó cũng phản ánh đúng xu hướng diễn biến của thị trường. Vì vậy, để đầu tư an toàn, chúng ta cần lưu ý một số điểm sau:

Khi giao dịch với khoảng trống giá, chúng ta nên quan sát khối lượng giao dịch, đồng thời kết hợp với các chỉ báo kỹ thuật khác như đường MA, RSI, MACD,.. để xác nhận tín hiệu chính xác hơn.

GAP tiếp diễn (Runaway GAP) đôi khi sẽ bị nhầm lẫn với GAP suy kiệt (Exhaustion GAP) và sau đó thị trường sẽ di chuyển theo 2 hướng khác nhau. Vì vậy nên đặc biệt chú ý đến khối lượng để phân biệt 2 loại GAP nói trên để tránh mắc bẫy. Trong trường hợp là GAP tiếp diễn, khối lượng giao dịch sẽ trung bình và thấp. Ngược lại, nếu là GAP suy kiệt, khối lượng giao dịch sẽ lớn hơn nhiều.

Cần xác định được chính xác các mức hỗ trợ và kháng cự theo các dạng của GAP để tiến hành vào lệnh phù hợp. GAP không phải lúc nào cũng được lấp đầy và thường lấp đầy trong những khoảng thời gian dài ngắn khác nhau. Vì vậy, không phải lúc nào xuất hiện GAP là ngay lập tức mở lệnh mua hoặc bán, để tránh mắc những sai lầm khiến ảnh hưởng xấu đến tài khoản đầu tư.

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2022

Thị trường chứng khoán giống như tham gia giao thông

 Hôm qua trong lúc lái xe trên đường khố khá hỗn loạn, vào giờ tan tầm, tôi chợt nhận ra ở VIệt Nam giao thông ở các thành phố lớn có cái gì đó khá giống với thị trường chứng khoán.

Đầu tiên thị trường và đường phố đều có rất nhiều bên tham gia, mua mua bán bán, đi lại xuôi ngược khá hỗn loạn. Nếu các bạn đọc về Bill Williams, thì các bạn cũng sẽ cảm nhận được sự hỗn loạn của thị trường. (Bill Williams là người phân tích ra một số chỉ báo kỹ thuật, dựa vào lý thuyết hỗn loạn của ông, trường phái của ông ít được biết đến ở Việt Nam)

Sự hỗn loạn đó dù sao cũng được đặt trong một khuôn khổ nhất định, đó là các quy định và các luật trong giao dịch tài chính và luật giao thông đường bộ. 

Nhưng dù có luật lệ sẽ vẫn luôn có những người muốn “lách luật”, khi lách luật thì họ đối mặt với rủi ro bị tóm. Khi bị tóm thì họ lại cố gắng “làm luật”. Nhưng đi đêm lắm có ngày gặp ma, sẽ có lúc họ không thể “làm luật” – lách luật được.

Với những nhà đầu tư cá nhân, nếu các bạn suy nghĩ việc đầu tư như việc tham gia giao thông và có suy nghĩ thấu đáo thì tôi tin chắc các bạn sẽ thành công. Có rất nhiều điểm chúng ta có thể rút ra được những bài học thú vị, đưới đây là một số bài học cá nhân tôi thấy rất dễ hình dung và dễ áp dụng.

Thứ nhất. Đã tham gia giao thông bạn sẽ đối mặt với rủi ro, ở Việt Nam chúng ta càng thấy rất rõ vì số lượng vụ tai nạn giao thông rất cao. Nhưng phần lớn chúng ta đều rất tự tin khi tham gia giao thông. Vì đa số cúng ta vẫn nghĩ cũng ta lái xe giỏi hơi trung bình và ít có khả năng bị tai nạn hơn. Cho đến một ngày chúng ta gặp tai nạn giao thông, có lẽ chúng ta sẽ thay đổi suy nghĩ. Nó cũng giống như những người đầu tư thành công trong một uptrend sẽ phải nghiêm túc suy nghĩ về đầu tư khi thị trường có những pha chỉnh mạnh như quý 2 vừa rồi. 

Thứ hai. Nói về tham gia giao thông chúng ta đều thấy là hồi trẻ chúng ta thường có xu hướng “máu hơn” và tham gia giao thông “gấu hơn”. Sau khi có đủ va chạm, càng lớn tuổi chúng ta sẽ có xu hướng đi an toàn hơn. Cái này khá giống thị trường tài chính, người trẻ và người mới tham gia thị trường thường sẽ giao dịch chủ động hơn, sôi động hơn.

Thứ ba: Quay lại chuyện rủi ro, bạn đi ô tô thì sẽ có ít rủi ro về sức khoẻ hơn khi tham gia giao thông nếu bạn đi xe máy. Khi không may gặp tai nạn, thì người điều khiển xe máy thường bị khá nặng nếu so với người đi ô tô. Ở thị trường tài chính, kiến thức và công cụ, sự chăm chỉ chính là chiếc ô tô của bạn, trên thị trường không phải ai cũng có điều kiện mua cho mình một chiếc ô tô.

Thứ tư. Tiếp tục câu chuyện rủi ro, nếu bạn đi càng nhanh, càng vượt ẩu thì bạn càng dễ có nguy cơ gây tai nạn nhiều hơn. Với thị trường tài chính, mua bán bạt mạng, mua bán với tần suất nhiều và không tìm hiểu kỹ chính là việc chúng ta phóng nhanh vượt ẩu.

Thứ năm. Khi tham đi ra đường, chúng ta vẫn phải bình thản đón nhận những rủi ro từ bên ngoài. Và đó là những rủi ro chúng ta không thể tính trước được. Ví dụ những lần kẹt xe ngoài dự tính, những cơn mưa lớn bất chợt làm ngập đường, hoặc đơn giản một người tham gia giao thông khác đi bất cẩn đâm vào bạn cho dù bạn đã đi rất cẩn thận. Thị trường tài chính cũng giống hệt như vậy, những biến cố bất ngờ, làm chúng ta dù đã cố gắng đầu tư an toàn chậm rãi nhưng vẫn có những lúc bị thiệt hại vì thị trường chung giảm mạnh. 

Nếu biết trước và đồng ý với những điểm ở trên, chúng ta có thể rút ra những kết luận như sau:

Kết luận 1. Dù ra đường có nhiều rủi ro va chạm giao thông, nhưng chúng ta vẫn phải đi làm, đi học, không thể ở nhà. Đầu tư tài chính thì không bắt buộc như thế, nhưng điểm chung là không thể vì rủi ro mà không đầu tư. Những cái được khi đầu tư lớn hơn rất nhiều so với những rủi ro này. 

Kết luận 2. Đã tư lâu tôi không cố gắng “bon chen” khi đi ra đường. Nếu các bạn lái ô tô, thì sẽ hiểu cái cảnh thỉnh thoảng chúng ta “kèn cựa” nhau trên đường, không cho người khác vượt lên. Hoặc bản thân chúng ta cố gắng vượt một chiếc xe đang đi chậm phía trước. Sau này tôi thấy những ganh đua trên đường phố này thật vô nghĩa, thường tôi cũng chỉ nhanh được 1-2 phút nếu tôi cố vượt một chiếc xe đi chậm phía trước. Nếu từ tốn thì sẽ đến đoạn đường rộng tôi có thể vượt dễ dàng, hoặc sẽ đến lúc chiếc xe kia rẽ theo ngả khác. Như vậy mục đích của chúng ta cần rõ ràng, đó là về nhà an toàn trong khoảng thời gian cho phép. Chứ không phải ganh đua với chiếc xe bên cạnh. Trên thị trường, việc hơn thua với môt người khác, nhà đầu tư khác, hay một phương pháp đầu tư khác là vô nghĩa. Chúng ta chỉ cần đặt mục tiêu rõ ràng cho các khoản đầu tư của bản thân và quản trị nó thật tốt là được. 

Cuối cùng. Khi đặt mục tiêu rõ ràng, chúng ta cũng nên hướng tới các mục tiêu lâu dài. Nếu ngày hôm nay chúng ta đi nhanh, vượt nhanh về nhà sớm 3 phút. Nhiều lần như vậy chúng ta thường lầm tưởng mình là tay đua siêu hạng. Nhưng chỉ một lần gây tai nạn, thiệt hại sẽ rất lớn, và những lần nhanh 3-5 phút kia không xứng đáng với rủi ro này. Mục tiêu của chúng ta là về nhà an toàn hàng ngày, trong nhiều năm. 

Tất nhiên không thể có sự giống nhau hoàn toàn giữa việc tham gia giao thông và tham gia đầu tư. Nhưng sự tương đồng của hai việc này có thể giúp bạn rút ra các bài học và điều chỉnh cách đầu tư sao cho đạt hiệu quả lâu dài.

----page nhà đầu tư nhát gan---

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022

Dollar index

Một số bạn có hỏi về việc đồng đô la mạnh lên, các đồng tiền khác mất giá. Để ngắn gọn, copy cái hình trên BB hôm nay và gợi ý một số điểm sau để các bạn nghĩ thêm:

1. Đô la lên giá chủ yếu vì (i) lãi suất Fed tăng (căn bằng IRP)  và (ii) tiền về lại Mỹ từ các thị trường rủi ro (một dạng carry trade). Còn sách nói lý do kinh tế Mỹ khỏe hơn so với các nước khác thì không thấy đúng.

2. Đô la thường phản ứng trước thời điểm Fed họp đưa ra thông báo về chính sách tiền tệ. Và thường phản ứng mạnh ở thời điểm không chỉ đưa ra lãi suất mà còn đưa ra đánh giá kinh tế. Nếu bạn để ý thì Fed sẽ cách lần họp để đưa ra đánh giá kinh tế, lần sắp tới là giữa tháng 12. Còn họp thường là tháng 11.

3. Vì con đường sắp tới của Fed sẽ là đánh mạnh lạm phát, nên lãi suất sẽ giữ ở mức cao cho đến 2024. Nhưng tăng cao lên thì chắc là Q4 năm 2022, có thể đến Q1/2023, nhưng duy trì thì sẽ từ đó cho đến 2024.

4. Vì lãi suất Fed sẽ tăng cao và ở mức cao, nên đô la sẽ tiếp tục ở mức cao. NHƯNG điều này chỉ đúng trong ngắn hạn khi các nước không tăng lãi suất, không thay đổi tỷ giá, hoặc tăng chậm hơn, thay đổi chậm hơn so với Fed. Do vậy, có thể kỳ vọng rằng Đô la sẽ tiếp tục còn tăng giá cho đến Q4/2022.

5. Để ý sẽ thấy Đô la thường điều chỉnh sau khi Fed công bố lãi suất và chính sách tiền tệ. Điều này là do phản ứng thái quá khỏi vùng hợp lý (thị trường hiệu quả). Nhưng xu thế tăng thì sẽ tiếp diễn theo diễn biến lãi suất Fed. Nghĩa là, đường dài cho đến hết Q4 xu thế vẫn tăng, nhưng sự điều chỉnh diễn ra ngay sau mỗi lần Fed họp.

6. Từ cuối Q4/2022 đến hết Q1/2023 nhiều khả năng sẽ tạo ra khu vực sideways kéo dài (có thể là vùng đỉnh) của đồng Đô la.

7. Nhận xét trên có thể áp dụng cho bất kỳ cặp tiền tệ nào, vì tâm điểm là đồng Đô la. Nhưng sự thay đổi tùy thuộc vào điểm 4.

8. Quan sát đồng Đô la có thể sẽ giúp hiểu rằng khi nào tiền lại trở lại thị trường mới nổi, rủi ro hơn (điểm 1).

9. Khi nguồn tiền (rẻ/đắt) là quan trọng, thì các phân tích cơ bản chủ yếu là trang điểm cho luận điểm sẵn có.



Mẫu hình phân phối tích lũy của Wyckoff

 





Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

GAP - Lưu ý quan trọng

 Gap là một vùng trống không giao dịch của cổ phiếu, GAP xảy ra do một số lượng lớn lệnh nhất định được gửi vào thị trường, tuy nhiên không có đủ nguồn cung cấp cho lượng lệnh đối ứng, vì vậy giá cổ phiếu nhảy lên, hoặc giảm xuống một mức giá mới, nơi ở đó có đủ lệnh đối ứng. Tại vùng mở GAP, nơi  không có giao dịch đối ứng trên đồ thị sẽ hiển thị một vùng trống giá không hoạt động, thường sẽ được lấp lại sau quá trình tăng lên hoặc giảm xuống của cổ phiếu.

I.    Phân loại GAP

- Với đặc tính thay đổi giá, GAP chia làm hai loại: GAP TĂNG - GAP GIẢM (UP DOWN)

- Với đặc tính sức mạnh, GAP chia làm hai loại: GAP SỨC MẠNH – GAP ĐIỂM YẾU.

►    Xu hướng thị trường có khả năng quay về lấp GAP rất cao. Nhưng vẫn có trường hợp không lấp.

Hiểu và vận dụng GAP trong đầu tư là rất quan trọng. Đôi khi GAP tăng là tốt, hoặc GAP giảm là tốt và ngược lại. Trong bài biết này chúng ta sẽ đi từng trường hợp cụ thế để phân tích rõ ràng về đặc điểm và cách xác nhận các loại GAP.

1.    GAP tăng: (GAP UP)

Giá cổ phiếu được đẩy lên một mốc giá cao hơn và vùng trống giao dịch ở giữa. Có thể chia GAP tăng thành 2 loại: Gap tăng sức mạnh và Gap tăng điểm yếu


•    Gap tăng điểm yếu: Thường là loại GAP tăng không tốt, nó thể hiện sự tăng giá đơn giản chỉ vì sự fomo bởi cầu nhỏ lẻ đẩy giá ngay đầu phiên bằng tin tức & thông tin đột biến từ doanh nghiệp, hoặc quán tính tăng từ đà tăng giá ngày hôm trước. Gap tăng điểm yếu chúng sẽ thường lấp lại và thường cảnh báo cho sự rủi ro hơn là cơ hội. Có 2 dạng thường thấy: Gap ngẫu nhiên trong đà tăng giá và Gap kiệt sức ở vùng đỉnh. 

o    Nguyên ngân: GAP tăng mở ra mà do nhỏ lẻ đẩy lệnh hoặc fomo, thì có khả năng Gap sẽ lấp lại bởi các lệnh bán xuống mà không có sự đỡ giá, vì tổ chức họ chưa muốn xảy ra nhu cầu này, quá trình tăng giá chỉ diễn ra khi gap được lấp và rũ nguồn cung nhỏ lẻ của cổ phiếu.



•    Gap tăng sức mạnh: Thường là loại Gap tăng không phổ biến, xuất hiện với tần suất ít hơn. Gap up này thường thì cổ phiếu bật tăng từ điểm pocket pivot, hoặc nền tích lũy, hoặc khu vực có vùng nhà đầu tư kẹp hàng, điểm kháng cự mạnh của cổ phiếu… Gap tăng sức mạnh ít có khả năng lấp lại trong trung hạn. Đây thường là dấu hiệu của cơ hội để tạo đà tăng giá mới của cổ phiếu.

o    Nguyên nhân: GAP up mở ra do các nhà đầu tư tổ chức chủ động đẩy lệnh (trường hợp này là gap sức mạnh) để giữ các nhà đầu tư không có tâm lý bán ra cổ phiếu ở vùng kháng cự cũ. Hoặc chủ động xác nhận cho một đà tăng giá mới! Có nghĩa là tạo tâm lý có lời ngay lập tức để giữ các nhà đầu tư không bán ra nhằm làm giảm lượng cung của thị trường, xác nhận xu thế giá mới và mua lại hết nguồn cung đó.


•    SỰ XÁC NHẬN: Gap tăng sức mạnh khác với điểm yếu ở một vài đặc điểm. 

Đối với Gap tăng điểm yếu, thường ở vùng giá bất kì trong hành vi giá, thì cổ phiếu có xu hướng sẽ lấp lại gap nếu volume có xu hướng giảm dần trong phiên đó hoặc các phiên sau. Gap tăng điểm yếu còn có thể báo hiệu cho dấu hiệu cho sự đảo chiều vùng đỉnh sau một đà tăng giá mạnh của cổ phiếu, tuy nhiên Gap tăng mạnh vùng đỉnh có thể có volume lớn vì sự phân phối hàng giữ tổ chức & nhỏ lẻ. Còn đối với Gap tăng sức mạnh – thường volume các phiên này là volume đột biến và tạo xu hướng mới sau đà tích luỹ. Volume  lớn thể hiện sự mua lại nguồn cung hàng của cổ phiếu sau quá trình tích luỹ để xác nhận xu hướng tăng giá mới.



2.    GAP giảm: (GAP DOWN)

Giá cổ phiếu đột ngột giảm xuống một mức giá thấp hơn và xuất hiện vùng trống giao dịch ở giữa. Có thể chia GAP giảm thành 2 loại: Gap giảm sức mạnh và Gap giảm điểm yếu. Gap giảm có vùng trông giao dịch ở phía trên. Gap giảm thường xảy ra ở thời điểm thị trường yếu hoặc cổ phiếu bị bán tháo liên tục và tới ngưỡng phục hồi.


•    Gap giảm sức mạnh: nó cũng xuất hiện trong quá trình đi xuống của giá, và giá có xu hướng sẽ lấp lại gap này bằng nhịp tăng ngắn hạn (phục hồi kĩ thuật) hoặc đảo chiều vùng đáy. Thường Gap giảm sức mạnh nó lại là cơ hội, vì xu hướng giá có khả năng đi lên hoặc đảo chiều nếu giá đang ở vùng đáy.

o    Đặc biệt: Gap giảm sức mạnh thường cho thấy có volume lớn, nếu đảo chiều vùng đáy thì lại càng có volume lớn càng tin cậy. Gap giảm sức mạnh tạo cơ hội cho việc thoát hàng ra khỏi cổ phiếu nếu cổ phiếu vẫn còn xu hướng giảm, hoặc cơ hội mua khi cổ phiếu đảo chiều từ vùng đáy. Nhưng nếu chỉ đơn giản là nhịp hồi kĩ thuật, volume của gap giảm sức mạnh thường giảm dần, cho thấy sự thiếu động lực mua. (Thường Gap giảm sức mạnh xảy ra với VNINDEX khá nhiều)



•    Gap giảm điểm yếu: xuất hiện ít hơn, thường là sau một xu hướng tăng dài của cổ phiếu hoặc đang trong vùng tích luỹ và giá đột ngột giảm xuống khỏi mức hỗ trợ, nền tích luỹ, cho thấy sự đảo chiều hoặc ngưỡng phục hồi mạnh sau đà giảm. Gap loại này thường sẽ có volume lớn đột biến.


3.    TỔNG KẾT

•    Không có cổ phiếu nào tăng mãi, cũng không có cổ phiếu nào giảm mãi, sẽ có những nhịp hồi phục và tạo gap liên tục. Đánh giá và sử dụng GAP là cách nhận diện cơ hội hoặc rủi ro một cách hiệu quả. Thường Gap sẽ thuần thục khi bạn giao dịch nhiều và để ý sự vận động của các Gap xuất hiện trên thị trường.

Ví dụ thực tế: (bài này mình có viết một lần trên tài khoản Nhật ký Chứng khoán VSA Official – có đề cập đến ví dụ này trong chính ngày hôm đó) 

Sáng nay, mình có để ý thấy 2 mã mở GAP Down.

1.    GEX: mở gap down ngay từ phiên sáng. Với kinh nghiệm cá nhân, ae không nên đua lệnh bán với cổ phiếu như vậy. Khả năng ngắn hạn hoặc trung hạn cổ phiếu sẽ lấp lại vùng gap này khi thị trường ổn định hoặc ngay trong phiên. - Nếu lấp ngay trong phiên mà thị trường xấu cổ phiếu có khả năng vẫn giảm tiếp. Nhưng nếu không lấp, hoẵc bật tăng trở lại, có thể đây là đáy phục hồi của cổ phiếu để tạo mẫu hình tích lũy tiếp theo.


2. APG: Mở gap up trong lúc thị trường xấu. Với kinh nghiệm cá nhân thì khả năng lấp gap là rất cao, anh em ko nên đua lệnh mua cổ phiếu khi mở gap kiểu này. Mình tin là có nhiều người sẽ kẹp cổ phiếu này lúc sáng. Không đánh giá là cổ phiếu có lên nữa hay không. Nhưng nếu muốn mua, hãy mua ở giá lấp gap. Cổ phiếu sẽ quay về lấp gap nếu thị trường yếu, còn thị trường mạnh hoặc tạo trend sóng ngành, có thể không cần lấp gáp.

Một vài case mình mua trọn từ đáy lên đỉnh cổ phiếu:

•    Điển hình DIG.


- Ở phiên này 4/8/2021. Mình đánh giá vùng 27 là vùng kháng cự mạnh của DIG hiện tại, mở đầu phiên DIG mở gap tăng, với số lượng lệnh lớn nhiều, thanh khoản bắt đầu gia tăng hơn trung bình. Mình đánh giá đây là GAP UP sức mạnh. Mình tham gia ngay khi cổ phiếu tăng ở mức 2-3%. Và sau đó ăn trọn đến vùng giá 35 thì mình chốt lời.

- Tiếp tục quãng thời gian sau khi DIG tích lũy mẫu hình cờ BULL FLAg, mình quan sát thấy ngày 6/10 Dig tiếp tục mở GAP up với mức giá break đường trendline. Đợt này thì mình khá chắn chắn DIG sẽ chạy nhưng do đang nắm dòng chứng khoán nên mình không để ý. Và nhịp 2 DIG chạy một mạch đến thời điểm hiện tại.

- Việc đánh giá GAP sức mạnh hay GAP điểm yếu nó là kinh nghiệm mn quan sát nhiều hành động giá của cổ phiếu. Việc mở GAP nếu liên quan đến tổ chức hoặc đội lái thì GAP này có thể là GAP sức mạnh. Còn nếu việc mở GAP mà do nhỏ lẻ fomo tạo cầu hoặc cung bán xuống thì khả năng lấp gap là rất cao.
Hiểu và thực hành sử dụng GAP nó là một kĩ năng mn nên thuần thục. Để tránh trường hợp bán non, hoặc lỡ đà chạy của sóng.

Ngoài ra còn rất nhiều case các bạn có thể tham khảo, và Fireant cung cấp trong bộ lọc Amibroker 2 bộ lọc về Gap tăng và Gap giảm trong phiên – bạn hoàn toàn có thể sử dụng để scan ra các điểm mua Gap up break từ vùng tích luỹ.

•    Đừng sợ GAP - đánh giá, quan sát, sử dụng GAP là một kĩ năng vô cùng quan trọng.

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

BCTC công ty chứng khoán

 Các điểm cần chú ý khi xem báo cáo tài chính của ngành chứng khoán

Ngành chứng khoán nói riêng và tài chính nói chung có những đặc thù riêng có nên không thể áp dụng các phương pháp phân tích đánh giá báo cáo tài chính như các đối tượng doanh nghiệp khác. Đối với ngành này, điều quan trọng nhất là xem xét doanh nghiệp mục tiêu có thể mạnh và chiến lược kinh doanh thuộc những mảng nào để chúng ta chú trọng vào phân tich chi tiết thế mạnh đó:

Thứ nhất theo quy định có hiệu lực từ đầu năm 2017 Công ty chứng khoán có 3 loại tài sản tài chính (TSTC) là: FVTPL, AFS và HTM.

– HTM chủ yếu là tiền gửi ngân hàng (ở mốt số công ty có khoản mục này rất lớn như SSI, VND là do họ có nghiệp vụ kinh doanh nguồn vốn hưởng chênh lãi suất) nên không liên quan đến việc ghi nhận lãi không thường xuyên từ danh mục tự doanh. Còn lại là FVTPL và AFS.

– Tài sản tài chính ghi nhận qua lãi lỗ (FVTPL) – theo quy định mới, TSTC FVTPL sẽ được hạch toán theo giá thị trường thay vì giá vốn điều chỉnh cho các khoản lỗ chưa thực hiện từ 2016 trở về trước. Theo đó các khoản lãi chưa thực hiện nhờ thị giá cao hơn giá vốn sẽ được ghi nhận cho dù chứng khoán đã được bán hay chưa và thị giá vào ngày cuối quý trước sẽ được lấy làm giá để tính lỗ/lãi chưa thực hiện cho quý tiếp theo.

– Tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS): lãi/ lỗ chưa thực hiện sẽ không hạch toán trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh. Lỗ chưa thực hiện sẽ đi vào bảng có tên “báo cáo thu nhập toàn diện khác”. Sau đó được ghi nhận trực tiếp vào mục “đánh giá lại tài sản” trong phần vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Lãi chưa thực hiện (thị giá cao hơn giá vốn) sẽ không được ghi nhận vào lợi nhuận. Đến khi chứng khoán được bán thì khoản lãi này mới được ghi nhận vào lợi nhuận trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh.

– Việc phân loại TSTC FVTPL và AFS có thể gây khó hiểu cho nhà đầu tư do các công ty chứng khoán được phép phân loại TSTC là FVTPL hay AFS theo mong muốn chủ quan của họ. Do vậy các công ty chứng khoán sẽ có chính sách riêng khi phân loại các TSTC này.

Thứ hai đánh giá hiệu quả kinh doanh từng mảng của công ty chứng khoán:

– Khác với các doanh nghiệp sản xuất thương mại hay các loại hình khác doanh thu và chi phí ghi trên báo có KQKD là con số tổng hợp, đối với công ty chứng khoán doanh thu và chi phí của từng mảng được tách biệt rất rõ ràng và chi tiết. Do đó tính hiệu quả kinh doanh của mỗi mảng thường rất đơn giản, chúng ta lấy doanh thu của từng mảng trừ đi chi phí là ra lợi nhuận gộp của mỗi mảng đó

– Những công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất thường đi kèm với đó là kết quả kinh doanh từ cho vay ký quỹ cũng rất lớn. Tuy nhiên, rủi ro đối với hoạt động cho vay cũng tương đối lớn bởi nhiều công ty chứng khoán đẩy mạnh cho vay và quản lý lỏng lẻo đã gặp rủi ro nợ xấu và thua lỗ rất lớn trong các năm 2010-2014. Do đó, chúng ta cần tìm hiểu, thu thập các thông tin ngoài lề về hoạt động cho vay, danh mục cho vay, phương thức QTRR mà công ty chứng khoán đó đang làm

– Các công ty chứng khoán có tài khoản HTM lớn thường đi kèm với nợ vay rất lớn để phục vụ cho kinh doanh nguồn vốn, đây là các khoản gửi rất an toàn. Do đó không hẳn những công ty chứng khoán này có nợ vay cao hơn vốn chủ sở hữu nhiều mà có rủi ro cao hơn các công ty khác.

– Rủi ro lớn nhất đối với một công ty chứng khoán thường là rủi ro đến từ danh mục tự doanh lớn (FVTPL và AFS) nên khi đầu tư chúng ta luôn phải lưu ý theo sát các cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tự doanh của họ để tránh các rủi ro cổ phiếu giảm mạnh gây thua lỗ cho công ty chứng khoán

– Các công ty chứng khoán có mảng ngân hàng đầu tư mạnh thường sẽ có mảng thu xếp vốn hiệu quả và khách hàng tổ chức phát triển hơn.

Thứ ba đánh giá dòng tiền của công ty chứng khoán rất khác với các loại hình kinh doanh khác

– Đối với 1 doanh nghiệp phi tài chính thì dòng tiền ra và vào của công ty vô cùng quan trọng, còn đối với các công ty chứng khoán dòng tiền không có nhiều ý nghĩa so với chất lượng tài sản trong bảng cân đối kế toán và hiệu quả kinh doanh bền vững của từng mảng trong bảng báo cáo kết quả kinh doanh

– Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư thường rất nhỏ và có thể bỏ qua ngay do: 1.Công ty chứng khoán đầu tư rất ít vào tài sản cố định; 2. Nếu có đầu tư tài chính lớn thì với công ty chứng khoán đó thuộc hoạt động kinh doanh chứ không phải hoạt động đầu tư.

– Lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán âm nhiều năm liên tiếp không hẳn là xấu thậm chí còn rất tốt: ngoài việc phụ thuộc lãi lỗ kinh doanh thì vấn đề quan trọng nhất là nó phụ thuộc vào việc mở rộng kinh doanh của công ty. Nếu 1 công ty chứng khoản mở rộng đầu tư vào các tài sản tài chính thì dòng tiền kinh doanh luôn âm.

– Lưu chuyển hoạt động tài chính dương nhiều chưa chắc đã xấu thậm chí còn tốt nếu việc dương là do hoạt động kinh doanh mở rộng mạnh (ở Việt Nam các công ty chứng khoán lớn đều mở rộng không ngừng hàng năm)

– Tiền và tương đương tiền của các công ty chứng khoán không quan trọng bằng các tài sản tài chính của công ty chất lượng có tốt không, vì khác với các loại hình khác các tài sản tài chính rất dễ chuyển đổi thành tiền nếu có chất lượng tốt với chí phí chuyển đổi rất thấp. Do đó các công ty chứng khoán hiệu quả thường không dự trữ tiền mặt nhiều như các ngành khác.

Phương pháp định giá thường dùng với ngành chứng khoán

Do đặc thù là ngành có tính chất chu kỳ và phụ thuộc vào sự biến động của thị trường chứng khoán rất cao, ngoài ra đây là ngành tài chính (một ngành kinh doanh tiền). Chính vì thế người ta thường định giá theo phương pháp kết hợp giữa P/B và P/E

– Dùng P/E để định giá mảng kinh doanh môi giới, ngân hàng đầu tư

– Dùng P/B định giá cho mảng kinh doanh nguồn vốn, tự doanh, cho vay ký quỹ


- FVTPL: ghi nhận theo giá thị trường và được hạch toán là lợi nhuận đầu tư trong báo cáo KQKD.

- AFS: ghi nhận theo giá thị trường và hạch toán vào vốn chủ sở hữu trong khoản mục “ chênh lệch đánh giá lại tài sản theo giá trị hợp lý”.

Như vậy, các TSTC trong AFS nếu chưa chốt lời thì không hề đóng góp vào doanh thu trong quý đó, tuy nhiên nó lại là một khoản lợi nhuận tiềm tàng nếu doanh nghiệp có chủ ý chuyển các khoản đầu tư từ AFS sang FVTPL và ngược lại để điều tiết lợi nhuận. Với sự khác biệt này, việc xem xét mức độ hiệu quả từ tự doanh của 1 công ty không thể chỉ xem xét qua đóng góp vào doanh thu trên bảng kết quả kinh doanh mỗi quý mà cần phải xem xét cả các tài sản chưa chốt lời tồn tại ở danh mục AFS.


Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2022

Ngành Điện Notes

Trong quý 3, giá nhiệt điện (điện khí và điện than) sẽ giảm do lượng nước trong các hồ thủy điện ở mức cao. Đến quý 4, các hồ thủy điện cần tích trữ nước để chuẩn bị cho mùa khô năm kế tiếp, đẩy nguồn phát chủ yếu vào khối khí và khối than, qua đó đẩy giá nhiệt điện thị trường lên cao hơn.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

Ngành thép Notes

  " Loại chi phí lớn nhất để sản xuất một tấn phôi thép là: quặng sắt (36%), than cốc (25%), khấu hao (14%), điện (6%), nhân công (4%), vận chuyển quặng sắt và than cốc lần lượt là 3% và 2%" con số tham khảo nhé

Giá quặng sắt trong 2023 và 2024 dự báo đạt 90 và 70 USD/Tấn (DISR) với kỳ vọng hồi phục nguồn cung xuất khẩu tại Úc và hồi phục sản xuất tại Trung Quốc. Giá than cốc được dự báo giảm tương tự xuống 200 USD/Tấn tới năm 2023 và 140 USD/Tấn vào 2024

Về mặt thị phần: HSG và NKG duy trì tỷ trọng sản lượng xuất khẩu > 50% tổng tiêu thụ. Trong khi đó, HPG tiếp tục gia tăng thị phần của mình với việc củng cố sản vị thế tại thị trường nội địa

 Thị trường xây dựng BĐS (chiếm 60% nhu cầu thép) 


Chuỗi giá trị sản xuất: Quặng sắt, than cốc → cho vào lò luyện → thép HRC → quá trình cuộn, cán nóng,… → thép thanh, thép cuôn, tôn mạ,...

Các dn ngành thép trong chuỗi giá trị này:

HPG (dn sản xuất): Tham gia quy trình từ A đến Z

NKG, HSG (dn thương mại): mua thép HRC về, rồi sau đó tạo ra thép thành phẩm

Vì thế giá cp thép liên quan mật thiết đến thép HRC và nguyên liệu đầu vào như quặng sắt và than cốc.

Nguyên nhân thép HRC giảm không phanh năm 2022 (tui tóm tắt ngắn gọn nhất có thể).
Thứ nhất, BĐS Trung Quốc và Việt Nam đổ đèo do chính phủ thực hiện các chính sách bóp nghẹt BĐS.
Thứ hai, môi trường lãi suất cao của Mỹ và EU => Cầu thép suy giảm

Nguyên nhân thép HRC tạo đáy và đi lên
Thứ nhất, TQ và VN đang thực hiện nhiều chính sách để khôi phục lại bđs, khơi thông nguồn vốn
Thứ hai, dự báo lãi suất ở Mỹ sẽ giảm cùng với sự phục hồi kinh tế (hạ cánh mềm) => Kích cầu thép
Thứ ba, Chính phủ VN nỗ lực giải ngân đầu tư công, trong đó thép chiếm 30% nguyên vật liệu đầu tư công (trong đó HPG và HSG chủ yếu tiêu thụ nội địa, còn NKG chủ yếu xuất khẩu sang EU).


Tóm tắt sách Nhà đầu tư 1970

 “Chứng khoán là nghề khó nhất, nhưng vinh quang nhất vì nó tổng hợp đủ các thể loại kiến thức từ kinh tế - chính trị, đến vĩ mô, vi mô, phân tích ngành nghề, phân tích doanh nghiệp, dự đoán tương lai của những thứ đó, nếu ai đoán đúng ăn đậm, thế nên số người chiến thắng là rất ít, ông nào không theo nổi tốt nhất nghỉ chơi, lo làm việc chuyên môn nuôi vợ con, ác ở chỗ lòng tham con người ai cũng có, mà ông nào cũng nghĩ mình giỏi hơn thiên hạ nên không bỏ được.”

“Chứng khoán sinh ra trong hoảng loạn sợ hãi, lớn lên trong nghi ngờ và chết bởi sự thỏa mãn”.

“Một tin nhưng phải định lượng tin đó tốt hay xấu, chứ không phải tin ra đọc báo thấy bọn nó chém phá sản là sợ, nó tốt cho ai và xấu cho ai, biết nó tốt cho thằng nào thì nương theo thằng đó mà kiếm tiền. Lúc nào cơ hội cũng có, nhưng nó chỉ dành cho những người lạc quan và có cái đầu sáng suốt.”

“Hãy nhớ những siêu cổ phiếu tăng vốn theo cấp số nhân nhưng EPS vẫn theo kịp nó là máy in tiền dành cho bạn.”

“Đừng bao giờ nghĩ rằng kẻ sẽ mua lại cổ phiếu của mình là ngu ngốc, bởi chính họ sẽ là người định giá cổ phiếu của mình trong tương lai. Nếu bạn mua giấy lộn mà nghĩ sẽ có thằng ngu mua của bạn giá cao, bạn sẽ đổ được bô vào đầu kẻ khác thì chính bạn sẽ là kẻ phải chết bởi thằng khác sẽ đổ bô vào đầu bạn trước tiên”.

09 Điều cần ghi nhớ

#1 Không mua cổ phiếu ngành nghề khủng hoảng, thừa, ế ẩm, giảm giá, bán chịu nợ.

#2 Không mua công ty vô chủ, giá cổ phiếu ở đáy đại dương rẻ như bùn mà hội đồng quản trị cứ bán như phá mả.

#3 Không mua cổ phiếu mà HĐQT không tập trung làm ăn, chỉ lướt sóng cổ phiếu hàng ngày.

#4 Không đầu tư công ty mà HĐQT bất tín, toàn bơm tin đểu.

#5 Không mua những cổ phiếu siêu thanh khoản, mua bao nhiêu cũng có, vì hàng tốt, hàng chất không ai sút như phá mả. Cổ chất phải cô đặc, nhiều cổ đông ôm dài hạn, nó quý hiếm mơi có thể tăng bằng lần, tăng không thấy đỉnh.

# 6 Không xác định mua giấy lộn để sút vào đầu kẻ đến sau, chỉ bán cho người đến sau những cổ phiếu chất lượng, họ mua sau vẫn có lời lớn.

#7 Không mua những cổ phiếu tăng bằng dòng tiền đầu cơ đánh bạc, bởi chúng sẽ về máng lợn rất nhanh, kẻ đến sau phải thua đau đớn. Chỉ mua cổ phiếu tăng bằng niềm tin và sự kỳ vọng của các cổ đông. Bởi niềm tin là sức mạnh gấp 100 lần tiền.

#8 Không bao giờ nói xấu cổ phiếu của mình khi đã PR, đã bán đi, luôn chúc cho người đến sau thịnh vượng, đó là uy tín trong kinh doanh.

#9 Không mua giấy lộn, chỉ gom tài sản có giá trị bị định giá thấp.

“Đỉnh cao trong phân tích tài chính là đọc BCTC phải hiểu được ý thằng viết muốn gì?” - Ẩn ý của lãnh đạo, ý chí lãnh đạo họ muốn gì?”

# Tốt phi logic (Xả hàng…)

# Xấu phi logic (Gom hàng…)


10 Dấu hiệu doanh nghiệp “làm xiếc” với BCTC

#1 Lợi nhuận đánh bại thị trường

#2 Lợi nhuận ấn tượng nhưng không được đối thủ cùng ngành vị nể.

#3 Lợi nhuận nhảy vọt so với cùng kỳ.

#4 Lợi nhuận ấn tượng công bố trước các đợt phát hành tham vọng.

#5 Lợi nhuận được tạo ra từ các giao dịch đáng ngờ.

#6 Các con số lợi nhuận thay đổi chóng mặt.

#7 Lợi nhuận gắn với các đợt thanh lý tài sản khả nghi. Các đợt thanh lý tài sản lớn có thể là biện pháp cứu vãn kết quả kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp. Đặc biệt nếu việc thanh lý diễn ra sát thời điểm kết thúc chu kỳ kế toán, thì gần như chắc chắn doanh nghiệp có ý đồ.

#8 Lợi nhuận cao đột biến rơi vào quý I và quý III. BCTC Q1 và Q3 không yêu cầu soát xét, nên các “bùa chú” kế toán nhiều khả năng được doanh nghiệp đem ra áp dụng nhiều nhất.

#9 Thay đổi kế toán trưởng liên tục.

#10 Doanh nghiệp có thể “múa may” lợi nhuận bằng cách thay đổi chính sách bán hàng, cho phép người mua trả chậm để tăng doanh thu. Một kỹ thuật khác là thay đổi các ước kế toán ghi nhận giá trị các hợp đồng tương lai về thời điểm hiện tại.


07 dấu hiệu nhận diện cổ phiếu “rởm”

#1 Chủ doanh nghiệp hay doanh nghiệp không được giới trong ngành đánh giá cao.

#2 Chủ doanh nghiệp quá chú ý đến các hoạt động giao dịch cổ phiếu.

#3 Các cổ đông lớn, tổ chức đồng loạt bán ra cổ phiếu và chấp nhận lỗ lớn.

#4 Tổ chức tư vấn “bỏ chạy” (giảm tỷ lệ sở hữu)

#5 Chủ doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có dính tới vi phạm pháp luật

#6 Doanh nghiệp đạt tăng trường lợi nhuận bất thường

#7 Đà tăng doanh thu không theo kịp đà tăng các khoản phải thu

Còn rất nhiều tín hiệu khác như: # Dòng tiền âm, # Vi phạm trong công bố thông tin...


08 Điểm yếu của các “thánh chém”

#1 Thiếu tầm nhìn chiến lược

#2 Nghe báo đài nồi chõ mà thiếu tư duy phân tích độc lập

#3 Đất tăng nhiều là tăng ảo?

#4 Vì sao nói BĐS hiện nay cơ hội lớn. Không ảo, còn tăng dài?

#5 Định lượng doanh nghiệp kém, bị đám đông chi phối.

#6 Chỉ nhìn được hiện tại

#7 Bong bón là chết chóc?

#8 Tính P/E cổ đất như cổ sản xuất và chê đắt, bỏ lỡ cơ hội.


05 yếu tố khiến bạn không đủ tầm và tư duy để thắng trận lớn

#1 Quá cầu toàn và đòi hỏi sự rõ ràng, không dám là kẻ đi trước.

#2 Tin đồn, tin ảo, xử lý chuẩn nó chính là kim cương.

#3 Bị cám dỗ bởi tiếng gọi bầy đàn

#4 Đừng mua thứ gì thật quá, bạn sẽ luôn là kẻ thất bại, hãy chú ý đến tương lai nhiều hơn.

#5 Không biết chọn những cổ phiếu có kỳ vọng cao.

“Những gì trong quá khứ sẽ lặp lại ở tương lai bởi lòng tham con người là không thay đổi”

“Tất cả đều được quyết định = XU HƯỚNG DÒNG TIỀN” – Tiền chảy vào đầu là THIÊN THỜI sáng ở đó.


06 Sai lầm khi tham gia thị trường

#1 Lòng tham (Lòng tham sẽ biến bạn mù quáng và lao vào chỗ chết)

#2 Sự sợ hãi (Sự sợ hãi luôn khiến các cơ hội rời xa tầm tay bạn)

#3 Thiếu tư duy độc lập (Muốn giàu xin đừng tham khảo số đông đại diện cho tầng lớp nghèo)

#4 Quên mất mục tiêu của mình khi đầu tư là gì. (Mua vì cái gì, bán vì cái đấy”

#5 FOMO

#6 Hiểu sai về giá trị (Giá trị của doanh nghiệp nằm ở ban lãnh đạo và tài sản, không phải lợi nhuận. Lợi nhuận là thứ có thể “xào nấu” được, tài sản thì phải tíc lũy. Tài sản có thể hiểu là lợi thế công nghệ, quyền áp đặt giá, trí tuệ, thương hiệu…)


06 Dấu hiệu về máng lợn của một cổ phiếu

#1 Giai đoạn giá cao, tay to ôm nhiều nên cô đặc, thanh khoản vừa phải

#2 Khi tay to phân phối, chạy hết còn nhỏ lẻ lướt sóng, thanh khoản bùng nổ, giá giảm mạnh, thường có sóng hồi.

#3 Cổ phiếu trở thành hàng đầu cơ siêu thanh khoản, do quá nhiều thằng kẹp hô hào PR, lướt sóng bằng TA nhao vào bắt đáy nên nhiều sóng Bull.

#4 Tin xấu bung ra, cổ cứ tèo dần theo năm tháng

#5 Các công ty chứng khoán cắt hết margin, cổ tiếp tục giảm sâu.

#6 Hủy niêm yết, giấy lộn hiện nguyên hình.


03 Kỹ năng cần có trong chứng khoán

#1 Đánh chụm

#2 Định lương hành trình = nhìn xa

#3 Kiên trì nhẫn nại


08 nhóm nghề khó tăng trưởng

#1 Nghề doanh thu bị đóng khung

#2 Nghề cần nhiều thiết bị “vũ khí” mới

#3 Nghề cạnh tranh bán chịu nợ, dòng tiền yếu

#4 Nghề khủng hoảng thừa mứa, giá sản phẩm giảm sâu

#5 Nghề giá sản phẩm không tăng được

#6 Nghề sản phẩm khó mang đi xa

#7 Nghề mùa vụ

#8 Nghề dùng quá nhiều vốn để tạo doanh thu, lợi nhuận.


04 nhóm nghề dễ tăng trưởng

#1 Nhóm vòng đời sản phẩm cực ngắn như thực phẩm đồ uống.

#2 Nhóm công nghệ cao dễ sinh đại gia

#3 Nhóm tay không bắt giặc (BĐS, Bán lẻ)

#4 Nhóm giá sản phẩm có thể tăng nhiều lần do khan hiếm. (BĐS)