• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2020

QUY TẮC SỐ 1 ĐẦU TƯ VỚI 15P MỖI TUẦN - PHIL TOWN



FSFSDF


Để tìm giá trị thực của cổ phiếu, chúng ta cần có bốn số liệu:
1. EPS (Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu) hiện hành.
2. Tỷ lệ tăng trưởng EPS dự đoán (tương lai).
3. PE (giá/thu nhập) dự đoán trong tương lai.
4. Tỷ suất lợi nhuận tối thiểu chấp nhận được từ khoản đầu tư này

Tóm lại, quá trình ấn định mức giá hợp lý như sau:
1. Tăng EPS hiện hành theo tỷ lệ tăng trưởng EPS dự tính trong 10 năm để dự đoán EPS
tương lai. (để xác định tăng trưởng EPS không phải là tỷ lệ tăng trưởng EPS quá khứ mà là tỷ lệ tăng
trưởng vốn cổ phần quá khứ)
2. Nhân EPS tương lai với PE tương lai (tôi sẽ miêu tả việc tính toán trong phần sau) để
dự đoán giá thị trường tương lai.
3. Dựa vào giá trị trường tương lai theo tỷ suất lợi nhuận hàng năm tối thiểu có thể
chấp nhận được để tính được giá trị thực.

TRẬT TỰ ƯU TIÊN CÁC TỶ LỆ TĂNG TRƯỞNG
Không phải cả bốn tỷ lệ tăng trưởng đều thể hiện cùng một mức độ như nhau hoặc có
cùng mức độ quan trọng. Mặc dù, tất cả chúng đều nằm trên mức tối thiểu 10%, nhưng
mức độ quan trọng của chúng được sắp xếp theo thứ tự theo mức quan trọng nhất như
sau:
1. Tăng trưởng vốn chủ sở hữu/vốn cổ phần.
2. Tăng trưởng EPS
3. Tăng trưởng doanh thu (hoặc tăng trưởng lợi nhuận gộp)
4. Tăng trưởng dòng tiền

Bốn tỷ lệ tăng trưởng
Chúng ta cần tìm ra số liệu về tỷ lệ tăng trưởng của doanh thu, EPS, vốn cổ phần, và tiền
mặt. Những số liệu đó cho chúng ta biết tỷ lệ tăng trưởng của doanh nghiệp mỗi năm so với những
năm trước.




Những con số này quan trọng đến mức tôi không bao giờ mua một công ty có năm
con số này kém. Đây là năm chỉ số:
1. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROIC).
2. Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu.
3. Tỷ lệ tăng trưởng của lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS).
4. Tỷ lệ tăng trưởng giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS)
5. Tỷ lệ tăng trưởng dòng tiền tự do (FCF)
Tất cả năm chỉ số này nên bằng hoặc lớn hơn 10% mỗi năm trong vòng 10 năm qua


(ROIC)
Lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROIC) là tỷ suất lợi nhuận một công ty thu được trên số tiền mặt
công ty đó đầu tư mỗi năm. Ví dụ, các con của bạn đầu tư kinh doanh một cửa hàng bán nước
chanh với số tiền là 200 đô-la dành cho sắp xếp, tổ chức và quản lý cửa hàng này. Sau một tuần,
các con của bạn quay trở về nhà với số tiền là 300 đô-la. Sau khi trừ chi phí 200 đô-la dùng để trả
cho người cung ứng, trả lương, và cho tờ rơi mà chúng đã phát ở Kinko thì lợi nhuận lũ trẻ thu được là
100 đô-la. ROIC là lợi nhuận của chúng chia cho số vốn mà chúng đầu tư. Trong trường hợp này,
lũ trẻ có lợi nhuận đầu tư lớn: 100 đô-la chia cho 200 đô-la bằng 50%

 Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu.
Nếu cửa hàng nước chanh của con bạn có doanh thu là 300 đô-la trong năm nay và năm sau
doanh thu là 1.000 đô-la thì doanh thu tăng thêm của chúng là 700 đô-la. Đây là một tin tốt nhưng
con số thực sự quan trọng là tỷ lệ tăng trưởng của doanh thu là bao nhiêu. Hãy để cho máy tính làm
phép chia 1.000 đô-la cho 300 đô-la và chúng ta được 3,33. Điều này có nghĩa là doanh thu là số
tương tự cộng với 2,3 hay 233%. Do đó, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho năm nay là 233%. Nếu
muốn tính toán tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho nhiều năm, chúng ta có thể dễ dàng làm được
điều đó. Chúng ta hãy tiếp tục tiến về phía trước và giả sử bọn trẻ có cửa hàng đó trong năm năm.
Trong năm thứ năm, chúng ta kiểm tra doanh nghiệp đó bằng cách tính tỷ lệ tăng trưởng trung bình
cho năm năm.

EPS (li nhun trên mi cphiếu), chsố này cho chúng ta biết công ty thu được bao nhiêu li nhun trên mi cphần shu .
 với số dư tiền mặt bọn trẻ kiếm được từ lợi nhuận 2.000 đô-la, trong một vài năm đó, công ty của các con bạn sẽ tiếp tục phát triển tới mức thu được lợi nhuận hàng năm là 6.000 đô-la. Bởi vì những người chủ công ty (bạn và các con của bạn) có 2.000 cổ phiếu nên 6.000 đô-la lợi nhuận chia cho 2.000 cổ phiếu có nghĩa là mỗi cổ phiếu đáng giá 3 đô-la. Đây là cách chúng ta tính lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu hay EPS. Trong trường hợp này, EPS là 3 đô-la. EPS thường được gọi là số “dòng cuối” bởi vì nó thường được đặt ở dòng cuối cùng của bản báo cáo tài chính (cụ thể là báo cáo thu nhập).


Cũng như đối với doanh thu, điều chúng ta thực sự quan tâm ngay lúc này là tỷ lệ tăng trưởng
của EPS. Cũng như tỷ lệ tăng trưởng của doanh thu, tỷ lệ tăng trưởng của EPS là lượng tăng trưởng từ năm này qua năm khác được biểu hiện bằng phần trăm. Nếu EPS của 10 năm trước là 10 xu trên
một cổ phiếu (100 đô-la chia cho 1.000 cổ phiếu, bởi vì cha mẹ của bọn trẻ chưa mua cổ phần) và
EPS của ngày hôm nay là 3 đôla một cổ phiếu thì tính toán tỷ lệ tăng trưởng của EPS sẽ cho chúng ta
biết tỷ lệ tăng trưởng EPS 10 năm là 41%.


Vốn cổ phần là những gì còn lại của bạn và các con bạn sau khi bọn trẻ bán đi mọi thứ, thanh
toán nợ nần, và lấy ra số tiền mặt còn lại. Nếu lũ trẻ quyết định từ bỏ công ty thì tất nhiên
chúng sẽ cố gắng bán công ty. Nếu không ai muốn mua công ty, bọn trẻ có thể chỉ bán phần dự
trữ đường và chanh và thanh toán mọi khoản nợ nần. Giả sử chúng có trong tay 8.000 đô-la chanh
dự trữ, đường, máy làm nước đá, cốc thuỷ tinh và bàn, cộng với 10.000 đô-la tiền mặt và một vài
chiếc xe tải trị giá 10.000 đô-la (đây là phần còn lại từ lợi nhuận và từ 12.500 đô-la vốn đầu tư
sau khi mua thêm hàng dự trữ và thiết bị). Vì bọn trẻ không nợ ai nên vốn cổ phần sẽ là 28.000
đô-la (8.000 đô-la từ bán hàng trữ, 10.000 đô-la từ bán xe tải, và 10.000 đô-la tiền mặt). Bạn và các
con bạn sẽ chia số vốn đó trên cơ sở mỗi cổ phiếu. Vì có 2.000 cổ phiếu và 28.000 đô-la để chia
nên mỗi cổ phiếu sẽ được 14 đô-la. 14 đô-la này được gọi là giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS)
và 28.000 đô-la được gọi là vốn cổ phần hay giá trị sổ sách. (Một số người gọi là giá trị thanh lý -
giá trị của doanh nghiệp khi nó không tồn tại nữa)


Quy tắc số 1 về nợ: Để xác định nợ của doanh nghiệp có hợp lý hay không, hãy xem
doanh nghiệp đó có thể trả hết nợ trong vòng ba năm hay không bằng cách chia tổng số
nợ dài hạn cho luồng tiền mặt tự do hiện hành

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020

CÁCH LỰA CHỌN CỔ PHIẾU CHO NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN


Kiểm tra các thông tin cơ bản của công ty ở cafef.vn, cophieu68.vn, vietstock.vn (nhập mã cổ phiếu vào ô tìm kiếm)
1. Kiểm tra khối lượng giao dịch hàng ngày (nếu KL quá ít sẽ gây khó khăn cho việc mua bán của nhà đầu tư)
2. Kiểm tra các thông tin cơ bản công ty: EPS, P/E, giá trị sổ sách, vốn hóa thị trường, khối lượng giao dịch 10 phiên, kiểm tra thông tin tài chính theo quý, năm; ngành hoạt động, lĩnh vực kinh doanh.
3. Kiểm tra tổ chức đang sở hữu (nhiều tổ chức lớn tham gia sở hữu sẽ giảm rủi ro), có tổ chức nào bán ra hoặc mua vào không.
4. Kiểm tra chính sách cổ tức; tình hình chia cổ tức hàng năm, dự kiến lợi nhuận và cổ tức năm nay.
5. Kiểm tra mức độ in giấy lộn (chia tách, phát hành thêm,..)
6. Kiểm tra ban lãnh đạo (già hay trẻ, xuất thân, có nắm giữ cổ phiếu công ty không,..)
7. Kiểm tra các công ty con, công ty liên kết làm ăn thế nào, có hoạt động cùng ngành với công ty mẹ không)
8. Kiểm tra báo cáo tài chính, đọc cáo bạch của công ty năm gần nhất
9. Kiểm tra các thông tin, sự kiện chi trả cổ tức, giao dịch cổ đông lớn, tăng vốn,..
10. Đánh giá lại cổ phiếu, nếu thỏa mãn tiêu chí do mình đặt ra thì tiếp tục đánh giá yếu tố thị trường chung
Và bạn hãy luôn nhớ hai nguyên tắc quan trọng nhất của nhà đầu tư thiên tài Warren Buffett là: “Nguyên tắc số 1: Không bao giờ để mất tiền; nguyên tắc số 2: Không quên nguyên tắc số 1”.
>>>Trên đây là những hướng dẫn chung định hướng những nhà đầu tư mới cách lựa chọn chứng khoán dựa trên phân tích cơ bản cổ phiếu.

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2020

25 QUY TẮC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN - PETER LYNCH

trước khi tắt máy tính, tôi không thể bỏ qua cơ hội cuối cùng để tóm  tắt những bài học quan trọng nhất mà tôi đã học được qua hai mươi  năm đầu tư của mình, trong số đó, rất nhiều bài học đã được thảo  luận trong cuốn sách này cũng như ở một số tài liệu khác:
 ✓ Đầu tư sẽ giúp bạn thấy hứng thú và đam mê, nhưng sẽ là nguy  hiểm nếu bạn không chịu bỏ thời gian nghiên cứu nó.  ✓ Giới hạn đầu tư không phải là những điều bạn có được từ các  chuyên gia chứng khoán mà từ những gì bạn đã có. Bạn có thể thắng  các chuyên gia đó nếu biết tận dụng giới hạn của mình bằng cách đầu  tư vào những công ty hay ngành nghề mà bạn hiểu rõ.
 ✓ Trong ba thập kỷ qua, thị trường chứng khoán luôn bị các nhà đầu  tư chuyên nghiệp thống trị. Trái với cách nghĩ thông thường, một nhà  đầu tư nghiệp dư có thể chiến thắng các nhà đầu tư chuyên nghiệp  bằng cách không đầu tư theo đám đông. 
✓ Cổ phiếu luôn là hình ảnh đại diện cho một công ty, vì vậy bạn hãy  tìm hiểu kỹ công ty đó đang làm gì. 
✓ Thông thường thì không có mối tương quan nào giữa thành công  trong hoạt động của một công ty và thành công của một cổ phiếu trong  vài tháng hay vài năm. Thế nhưng trong dài hạn thì hai yếu tố này lại  hoàn toàn tương quan với nhau. Sự chênh lệch chính là chìa khóa để  bạn kiếm tiền; hãy kiên nhẫn và chỉ sở hữu những công ty thành công  và làm ăn có lời. 
✓ Bạn phải biết rõ bạn đang sở hữu cổ phiếu của công ty nào, và tại  sao lại sở hữu nó. Đừng để ý đến việc “cổ phiếu đó chắc chắn sẽ mang  lại bao nhiêu lợi nhuận!”. 
✓ Những cổ phiếu mất nhiều thời gian thành công thường mất điểm.
✓ Nuôi cổ phiếu cũng giống như nuôi con vậy – chỉ nên nuôi nếu bạn  có khả năng chi trả. Người chơi cổ phiếu bán thời gian có thể vẫn có  thời gian để theo dõi từ 8 - 12 công ty, và mua bán cổ phần tuỳ theo  điều kiện cho phép. Không nhất thiết là lúc nào cũng phải có hơn 5  công ty trong danh mục đầu tư cùng một lúc. 
✓ Nếu không tìm được công ty nào mà bạn thấy hấp dẫn, hãy để tiền  trong ngân hàng cho đến khi tìm được một công ty nào đó.
 ✓ Không bao giờ đầu tư vào một công ty mà không hiểu gì về tình  hình tài chính của công ty đó. Những khoản thua lỗ lớn nhất trong đầu  tư chứng khoán đều tới từ những công ty có bảng cân đối kế toán tồi  tệ. Luôn xem xét kỹ bảng cân đối kế toán để xem công ty có khả năng  thanh toán hay không trước khi mạo hiểm đầu tư vào. 
✓ Tránh xa cổ phiếu của những công ty nóng thuộc các lĩnh vực nóng.  Những công ty lớn trong những ngành nghề ít sôi động, không phát  triển luôn là những công ty thắng lớn.
 ✓ Với những công ty nhỏ, tốt nhất nên đợi cho công ty đó ăn nên làm  gia trước khi đầu tư vào. 
✓ Nếu bạn có ý định đầu tư vào một ngành nghề đang gặp khó khăn,  hãy mua cổ phiếu của những công ty có khả năng vượt qua thử thách.  Đồng thời, hãy đợi khi nào ngành nghề đó có dấu hiệu phục hồi. Xe  ngựa kéo và đèn radio là những ngành sản xuất gặp khó khăn và  không bao giờ phục hồi trở lại. 
✓ Nếu đầu tư 1.000 đô-la vào một cổ phiếu, tối đa bạn chỉ mất 1.000  đô-la, nhưng qua thời gian, bạn có thể thu được 10.000 đô-la hoặc  thậm chí 50.000 đô-la nếu kiên trì. Người bình thường có thể tập trung  vào một số ít công ty làm ăn tốt, trong khi nhà quản lý quỹ lại buộc  phải đa dạng hoá. Nếu nuôi quá nhiều cổ phiếu, bạn sẽ mất đi cơ hội  tập trung này. Bạn chỉ cần chọn ra một số công ty thật tốt thì khoản  đầu tư của bạn mới có giá trị thật sự. 
✓ Trong mỗi ngành nghề và mỗi vùng miền của đất nước, nhà đầu tư  nghiệp dư nếu có óc quan sát có thể tìm ra những công ty tăng trưởng  xuất sắc trước khi những nhà đầu tư chuyên nghiệp có thể tìm ra. 
✓ Thị trường chứng khoán sụt giảm chỉ là hiện tượng thường ngày,giống như hoa nở vào mùa xuân vậy. Nếu chuẩn bị tinh thần tốt, hãy  yên tâm là nó sẽ không gây ảnh hưởng gì đến bạn cả. Sụt giảm là một  cơ hội rất tốt để mua được những cổ phiếu giá rẻ bị các nhà đầu tư bỏ  qua, những người tránh bão trong cơn hoảng loạn. 
✓ Mọi nguời đều có khả năng tư duy để kiếm tiền từ đầu tư cổ phiếu.  Nhưng không phải ai cũng muốn. Nếu bạn dễ bị ảnh hưởng với việc  bán mọi thứ trong cơn hoảng loạn, tốt nhất là nên tránh cả cổ phiếu và  quỹ tương hỗ cổ phiếu.  ✓ Luôn có những điều phải lo lắng về khoản đầu tư của bạn, nhưng  đừng nghĩ tới và hãy bỏ qua những tiên đoán bi thảm cuối cùng của  các phát thanh viên. Dù bất cứ chuyện gì xảy ra bạn cũng chỉ nên bán  cổ phiếu khi những nền tảng cơ bản của công ty giảm giá trị chứ  không phải bởi vì bầu trời đang sụp xuống. 
✓ Không ai có thể đoán trước được tỷ lệ lãi suất, chiều hướng tương  lai của nền kinh tế, hay của thị trường chứng khoán. Vậy nên hãy gạt  bỏ những dự đoán đó và chỉ tập trung vào thực tế đang diễn ra tại công  ty mà bạn đầu tư vào. 
✓ Nếu nghiên cứu 10 công ty, bạn sẽ thấy ít nhất có một công ty có  tình trạng tốt hơn kỳ vọng. Vậy nếu nghiên cứu 50 công ty, thì sẽ có 5  công ty như vậy. Thị trường chứng khoán luôn có những bất ngờ thú  vị – những cổ phiếu bị các chuyên gia ở Phố Wall bỏ qua lại là những  cổ phiếu làm nên kỳ tích. 
✓ Nếu bạn không nghiên cứu về bất cứ công ty nào, thì thành công  trong việc mua cổ phiếu của bạn cũng giống như khả năng thắng khi  chơi một ván bài mà chỉ đoán và không nhìn vào những quân bài của  mình.
 ✓ Thời gian đứng về phía bạn khi sở hữu cổ phần của những công ty  lớn. Hãy luôn kiên nhẫn – ngay cả khi bạn bị lỡ mất cơ hội mua WalMart trong năm năm đầu, thì trong năm năm sau nó vẫn là cổ phiếu  đem lại lợi nhuận cao cho bạn. Thời gian sẽ không ủng hộ bạn nếu đầu  tư vào những hợp đồng quyền chọn.
 ✓ Nếu bạn muốn đầu tư cổ phiếu mà không phải mất nhiều thời gian  hay công sức để nghiên cứu nó, cách tốt nhất là hãy đầu tư vào quỹ  tương hỗ cổ phiếu. Trong trường hợp này, bạn nên thực hiện phươngthức đa dạng hóa. Hãy đầu tư vào một số loại quỹ khác nhau có những  nhà quản lý theo đuổi các phong cách đầu tư khác nhau: cổ phiếu tăng  trưởng, cổ phiếu giá trị, các công ty nhỏ, công ty lớn, v.v.. Đầu tư vào  sáu quỹ cùng loại không phải là cách thức đầu tư đa dạng hoá. 
✓ Chuyển từ quỹ tương hỗ này sang quỹ tương hỗ khác sẽ khiến bạn  bất lợi vì phải nộp thuế lãi vốn. Nếu một hoặc một vài quỹ mà bạn đầu  tư có tình hình kinh doanh tốt, thì không nên bỏ dở những cổ phiếu đó  giữa chừng, hãy trung thành với chúng.
 ✓ Trong số những thị trường chứng khoán lớn trên thế giới, thì thị  trường của Mỹ chỉ đứng thứ tám về tổng doanh thu trong cả thập kỷ  qua. Bạn có thể tận dụng cơ hội đầu tư vào những nền kinh tế phát  triển nhanh hơn bằng cách đầu tư một phần tài sản của mình vào một  quỹ nào đó ở nước ngoài có lịch sử phát triển tốt. 
✓ Về lâu dài, danh mục đầu tư với những cổ phiếu và/hoặc các quỹ  tương hỗ vốn cổ phần được lựa chọn kỹ càng sẽ luôn thắng thế so với  danh mục đầu tư với trái phiếu hay một tài khoản trên thị trường tiền  tệ. Về lâu dài, một danh mục đầu tư bất cẩn khi lựa chọn sẽ không có  tiềm năng đem lại lợi nhuận.

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2020

KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM



2. Cuối tháng 3-2020 tỉ giá đô la tăng mạnh, ngoài những lý do đc dự báo có một yếu tố ảnh hưởng nữa là do khủng hoảng, khối ngoại bán ròng trên thị trường chứng khoán, rút tiền về nước, khiến cho nhu cầu đô la tăng mạnh. Khiến tỉ giá tăng. Đây cũng trùng với thời điểm FED hạ lãi suất, mà mỗi lần FED hạ lãi suất thì các nước đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng

1. Các khoản vay ngân hàng đã vượt quá mức GDP của quốc gia, ở mức cao đối với một quốc gia chỉ kiếm được khoảng 2.500 đô la trên đầu người. Vì vậy, các ngân hàng cần tăng vốn để đệm chống lại nợ xấu trong tương lai. Khoảng một nửa số ngân hàng địa phương không thể đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, Fitch Ratings đã cảnh báo. Việc huy động vốn là khó khăn ngay cả khi người nước ngoài muốn mua, bởi vì chính phủ áp đặt giới hạn sở hữu nước ngoài nghiêm ngặt ở mức 30% đối với các ngân hàng của mình. Nếu không nâng giới hạn, thì chỉ có hai kết quả cho lĩnh vực này: Hoặc là theo Trung Quốc rơi vào một cuộc khủng hoảng nợ, hoặc là giảm quy mô cho vay doanh nghiệp. Cả hai đều không phải là tin tốt cho các nhà đầu tư.


KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN



2. Trọng tiền (monetarism) là một trường phái kinh tế gắn liền nhất với tên tuổi của Milton Friedman, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1976. Nguyên lý căn bản nhất của trường phái này là: các thay đổi trong cung tiền tệ là nguyên nhân quan trọng nhất làm thay đổi GDP. Những thay đổi này của GDP, khi được đo lường bằng đồng đô-la, có thể được chia làm 2 bộ phận cấu thành: phần “thực chất”, mang lại các món lợi thực sự, và phần “do lạm phát”, chỉ tạo ra các lợi nhuận ảo. Lấy phần GDP tăng trưởng “thực chất” cộng với phần tăng “do lạm phát” sẽ biết được sự gia tăng của GDP danh nghĩa, tính theo đồng đô-la.
Đóng góp của Friedman nhằm chứng minh rằng tăng lượng cung tiền để tăng sản lượng đầu ra chỉ có hiệu quả đến một mức giới hạn nào đó; còn khi vượt giới hạn này thì mọi sự gia tăng theo danh nghĩa đều là do lạm phát chứ không phải là thực chất. Trên thực tế, Fed có thể in tiền để đạt tăng trưởng danh nghĩa, nhưng có một mức độ giới hạn sự tăng trưởng thực tế. Fried man cũng kết luận rằng các ảnh hưởng do lạmn phát khi tăng lượng cung tiền sẽ xuất hiện với một độ trễ nhất định, vì vậy trong ngắn hạn thì việc in tiền vẫn có thể làm tăng GDP thực tế, nhưng sau đó lạm phát sẽ xuất hiện và triệt tiêu những lợi ích ban đầu.

1.Tại sao mỗi lần FED Mỹ tăng lãi suất tí tẹo 0.25% là kinh tế tài chính của các nước mới nổi và đang phát triển đảo lộn, phải có tất cả những biện pháp tự vệ và trả giá cho những biện pháp tự vệ này bằng cách mang nặng thêm nợ công bằng usd. Nếu họ không có biện pháp tự vệ thì nguy cơ trở thành Venezuela là hiện thực. Những NĐT ngoại và quỹ đầu tư với số lượng usd từ vài triệu tới vài chục tỷ usd phải luôn luôn thay đổi cách đầu tư, chuyển dịch vốn cho phú hợp với tình huống (nếu đầu tư tệ thì mất chức, mất lương hàng triệu usd/năm cho mỗi GĐ quỹ). Có hai loại đầu tư là đầu tư lãi suất cố định (fixed interst investment như trái phiếu, cho NH vay với lãi suất thỏa thuận trước v.v..) và đầu tư cổ phần (equity investment). Khi lãi suất thấp thì họ đầu tư vào cổ phiếu, sinh lợi cao hơn và có rủi ro tỷ giá (exchange rate risks). Nhưng khi lãi suất cao thì họ bán cổ phiếu, thu usd về và chuyển qua đầu tư lãi suất cố định. Chính động tác này làm usd khan hiếm ở những QG đang phát triển, điều này làm tỷ giá tăng cao. Để giới hạn usd bay ra khỏi QG họ, họ phải tăng lãi suất nội tệ. Khi tăng lãi suất nội tệ thì sẽ tạo suy trầm hay suy thoái tùy QG nhưng chắc chắn rằng sau độ chậm chừng 6 tháng hay 1 năm thì GDP sẽ giảm rất sâu. Những quỹ đầu tư này bất cứ nơi nào trên thế giới chỉ vài cú nhấp chuột là họ chuyển dịch dòng vốn đầu tư vài tỷ đô đến vài chục tỷ đô đi từ Singapore đến Frankfurt, London, Paris, New York, Sudney v.v..

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2019

Thuật ngữ cơ bản

Sự gia tăng (lợi nhuận và doanh thu): chỉ số phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp. Nó thể
hiện tỷ lệ tăng trưởng về lợi nhuận và doanh thu qua các quý. Những công ty mạnh thường có
tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn trong 3 hay 4 quý gần đây. Ví dụ: Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận của
công ty XYZ như sau: (Q1) + 20%, (Q2) + 27%, (Q3) + 52%, (Q4) + 59%


Tích luỹ: Các nhà đầu tư tổ chức hay các nhà đầu tư chuyên nghiệp đang mua cổ phiếu.Chỉ số tích luỹ/phân phối: Chỉ số độc quyền của tờ Investor’s Business Daily. Một trong những
chỉ số của IBD
SmartSelectTM phản ánh mức độ mua vào (tích luỹ) và bán ra (phân phối) đối
với một cổ phiếu cụ thể trong 13 tuần qua. Chỉ số này được cập nhật hàng ngày, được xếp hạng
từ A đến E:
A = Được mua vào lớn
B = Được mua vào ở mức trung bình
C = Mức mua vào bằng mức bán ra
D = Được bán ra ở mức trung bình
E = Được bán ra ở mức cao


Đường tăng: Đường tăng được tính trên cơ sở tổng số cổ phiếu tăng giá trên tổng số cổ phiếu
giảm giá mỗi ngày tại Thị trường chứng khoán New York (NYSE). Đây là một công cụ kỹ thuật
phổ biến nhưng thường bị các nhà đầu tư lạm dụng hoặc hiểu sai.


Lợi nhuận hàng năm: Chỉ số phản ánh sự tăng trưởng của công ty trong dài hạn. Chỉ số này
thường đề cập đến lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu của công ty trong một năm cụ thể.


Giá chào bán và giá đặt mua: xác định giá mua vào/bán ra của một loại cổ phiếu. Cổ phiếu
thường được mua vào ở mức giá thấp nhất mà người bán chấp nhận và được bán ra ở mức giá
đặt mua cao nhất mà người mua chấp nhận. Sự chênh lệch giữa 2 mức giá này gọi là chênh lệch
giá.


Phân bổ vốn: Phân bổ các tỷ lệ vốn trong một danh mục đầu tư vào các loại hình đầu tư khác
nhau (cổ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu nước ngoài, dự trữ tiền mặt, vàng, các quỹ tương hỗ, giao
dịch kỳ hạn, giao dịch quyền chọn v.v…)


Tăng giá hoặc giảm giá trung bình: Sau khi mua vào một cổ phiếu đầu tiên sẽ làm tăng giá
trung bình của những cổ phiếu mua vào tiếp theo. Sự mua thêm này sẽ được đảm bảo nếu cổ
phiếu được mua đúng điểm mua và giá của nó tăng từ 2 đến 3% so với giá mua ban đầu. Giảm
giá trung bình là việc mua vào cổ phiếu khi mức giá trung bình giảm. Tuy nhiên nó có độ rủi ro
cao vì bạn không bao giờ biết được mức giá sẽ sụt giảm đến đâu. Mức giá trung bình là các
mức giá phải trả cho mỗi lần mua cổ phiếu chia cho tổng số cổ phiếu đã mua vào. Nếu mức giá
mua vào 100 cổ phiếu đầu tiên là 50 đô-la và giá mua vào 75 cổ phiếu lần thứ hai là 50 ½ đô-la
thì mức giá mua vào trung bình cho 175 cổ phiếu là 50 5/8 đô-la.


Đơn hàng tồn đọng: Tổng số hàng đã được đặt mua nhưng chưa tiến hành giao hàng (Sự gia
tăng đơn hàng tồn đọng thường có nghĩa là công việc kinh doanh của công ty đang thuận lợi).
Mô hình (và những mô hình cơ bản, xây dựng mô hình, vùng củng cố giá, mô hình giá):thuật ngữ được sử dụng trong phân tích kỹ thuật đề cập đến mô hình biểu đồ của cổ phiếu. Nó
là một công cụ để dự báo mức giá của cổ phiếu trong tương lai. Mức giá này thường duy trì
trong khoảng 7 tuần nhưng cũng có thể kéo dài đến 12 tháng.


Thị trường giá xuống: Là giai đoạn mà các chỉ số thị trường (như chỉ số Dow Jones, S&P 500,
Nasdaq) giảm từ 15 đến 25%, trong một số trường hợp là 50%. Xu hướng này có thể kéo dài 9
tháng đến một năm nhưng cũng có thể chỉ từ 3 đến 6 tháng.


Biểu đồ “Các quỹ tăng trưởng vốn lớn và các quỹ tăng trưởng vốn nhỏ”: có trong trang
“Các nhóm ngành” trên tờ
Investor’s Business Daily. Biểu đồ này chỉ ra mức độ các tổ chức lớn
đang mua vào và bán ra những cổ phiếu có mức vốn hoá thị trường lớn hay nhỏ. Biểu đồ này
giúp nhận ra những thay đổi trong việc mua bán của các tổ chức.


Cổ phiếu lớn: Cổ phiếu nổi bật trên thị trường. Microsoft, IBM, AT&T được coi là những cổ
phiếu lớn.


Cổ phiếu blue-chip: Cổ phiếu của những công ty danh tiếng, có những chỉ số cơ bản tốt và có
chất lượng (doanh thu, lợi nhuận…).


Trái phiếu: Là giấy xác nhận nợ giữa bên phát hành với tư cách người đi vay và nhà đầu tư với
tư cách người cho vay. Lãi suất cố định được trả theo định kỳ, và phần gốc sẽ được hoàn trả
vào thời gian đáo hạn.


Thị trường giá lên: Là giai đoạn kéo dài nhiều tháng hoặc vài năm của thị trường mà trong đó
những chỉ số chính như Dow Jones, S&P 500, và Nasdaq đều tăng trưởng.
CAN SLIM: Từ viết tắt của chiến lược đầu tư của William J. O’Neil. Mô hình CAN SLIM dựa trên
7 đặc điểm mà ông tìm thấy ở những cổ phiếu rất thành công trong 45 năm qua. Cuốn sách
How to make money in stocks (Làm giàu qua chứng khoán) của William J. O’Neil sẽ cung cấp
thêm chi tiết về mô hình này.
C = Tăng trưởng lợi nhuận trong quý hiện tại
A = Tăng trưởng lợi nhuận hàng năm
N = Sản phẩm mới, dịch vụ mới, ban quản lý mới và giá trần mới
S = Cung và cầu
L = Cổ phiếu hàng đầu và cổ phiếu “hạng hai”
I = Nhà đầu tư tổ chức
M = Xu hướng thị trường


Tài khoản tiền mặt: Tài khoản môi giới trong đó các giao dịch được thực hiện bằng tiền mặt.
Đường tăng/giảm của cổ phiếu: Trên biểu đồ cổ phiếu, đường tăng/giảm được xác định
bằng cách vẽ một đường thẳng nối 3 điểm ở mức giá cao nhất của cổ phiếu và một đường gần
như song song nối 3 điểm ở mức giá thấp nhất trong cùng thời kỳ, thường là vài tháng. Nếu
đường tăng/giảm được xác định trong khoảng thời gian quá ngắn sẽ không chính xác.


Đỉnh điểm: Khi cổ phiếu đột ngột tăng trưởng ở mức cao hơn nhiều trong một hoặc 2 tuần
sau khi đã tăng trưởng trong nhiều tháng. Nhìn chung điều này xảy ra vào giai đoạn cuối cùng
trong quá trình tăng giá của cổ phiếu, báo hiệu cổ phiếu sắp giảm giá trong tương lai. Theo
nghiên cứu của William J. O’Neil, nhiều cổ phiếu hàng đầu trên thị trường biến động theo kiểu
này.


Quỹ kết thúc đóng: Các công ty đầu tư quỹ kết thúc đóng thường có một số lượng cổ phiếu
nhất định để bán ra. Những cổ phiếu này được giao dịch trên các thị trường chứng khoán chính
và biến động theo quy luật cung và cầu của thị trường. Do đó, không có gì bảo đảm rằng bạn có
thể bán cổ phiếu của mình ở mức giá trị ròng như khi bạn tham gia vào các quỹ kết thúc mở.
Hoa hồng: Là phí nhà đầu tư trả cho các nhà môi giới khi họ thay mặt nhà đầu tư mua hoặc
bán cổ phiếu.


Hàng hoá: Những loại hàng hoá như nông sản (đỗ tương, thịt lợn, ngũ cốc, cà phê…), kim loại,
các chỉ số tài chính, gỗ, hàng may mặc… được bán cho các nhà đầu tư thông qua những hợp
đồng giao dịch kỳ hạn.


Lợi nhuận gộp: Thường được áp dụng cho các quỹ tương hỗ, có liên quan tới việc tái đầu tư
lợi nhuận nhằm đem lại một khoản tiền lớn hơn cho bạn trong nhiều năm.
Lợi nhuận ước tính: Qua phân tích thị trường, dự đoán lợi nhuận tiềm năng của một công ty
trong 1 hoặc 2 năm tới.


Biểu hiện trái chiều: Biểu hiện tâm lý của các nhà đầu tư khi sử dụng những chiến lược đầu tư
không hợp lý. Khi biểu hiện này đạt đến đỉnh điểm sẽ dự báo các hành động trái ngược trên thị
trường. Ví dụ, một số nhà đầu tư cho rằng khi đa số các chỉ số phân tích cho thấy thị trường
đang tăng trưởng, có thể thị trường sắp chạm đỉnh. Ngược lại, khi các chỉ số phân tích cho thấy
thị trường sắp giảm sút thì họ lại tin rằng thị trường đang chuẩn bị cho một đợt tăng giá mới.
Sự điều chỉnh: Là sự sụt giảm của các chỉ số thị trường chung hay một cổ phiếu riêng lẻ.

“Chiếc cốc có tay cầm”: do William J. O’Neil phát triển, là một trong 3 mô hình biểu đồ thường
gặp khi tiến hành phân tích kỹ thuật. Tên của mô hình được đặt dựa trên hình dáng của biểu đồ
thể hiện sự biến động giá cổ phiếu giống một chiếc cốc có tay cầm
.
Các cổ phiếu/các nhóm ngành/các lĩnh vực có tính chu kỳ:
Là khi một cổ phiếu, ngành hay
lĩnh vực nào đó biến động theo chu kỳ kinh doanh (ví dụ: ngành đường sắt, hàng không, đồng,
thép, ô tô, nhà đất…)


Daily Graphs (Daily Graphs Online): Ấn phẩm và dịch vụ trực tuyến (www.dailygraphs.com)
cung cấp cho các nhà đầu tư cá nhân những thông tin dựa trên phân tích cơ bản và phân tích kỹ
thuật của hàng nghìn loại cổ phiếu.


Các cổ phiếu/các nhóm ngành/các lĩnh vực an toàn: Được các nhà đầu tư đánh giá là ổn
định hơn và tương đối an toàn. Đó thường là cổ phiếu của các mặt hàng như hàng tiêu dùng,
thuốc lá, thực phẩm, xà phòng, đồ uống nhẹ, siêu thị v.v…


Phân phối: Các tổ chức lớn đang bán cổ phiếu

Đa dạng hoá: Phân bổ vốn đầu tư ra nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giảm rủi ro trong danh
mục đầu tư.


“Hai đáy”: Biểu đồ của William J. O’Neil có dạng giống với chữ “W”. Đây là một trong 3 mô hình
biểu đồ cơ bản được dùng trong phân tích kỹ thuật.


Chỉ số Dow Jones (DJIA): Là chỉ số phản ánh biến động giá hàng ngày của 30 cổ phiếu của
những công ty lớn và blue-chip trên thị trường chứng khoán New York. Chỉ số này phản ánh xu
hướng biến động chung của nền kinh tế Mỹ.


Lợi nhuận (và tăng trưởng lợi nhuận): Là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá khả năng sinh lợi và
tăng trưởng của một doanh nghiệp hàng quý hoặc hàng năm.


Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu: Được tính bằng cách chia tổng lợi nhuận sau thuế cho tổng số
cổ phiếu phát hành của công ty. Có thể được sử dụng như một công cụ đánh giá mức độ tăng
trưởng và khả năng sinh lợi.


Chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS): Chỉ số chính tìm thấy trong các chỉ số của IBDSmartSelectTM trên tờ Investor’s Business Daily. Các cổ phiếu được xếp hạng từ 1 đến 99 (99 là
mức cao nhất) so sánh mức tăng trưởng lợi nhuận hiện tại và lợi nhuận hàng năm của một
công ty cụ thể với các công ty khác đang được niêm yết trên thị trường. Những cổ phiếu có chỉ
số EPS đạt 80 hoặc hơn thường là những công ty hoạt động tốt hơn những công ty khác ở mức
80% hoặc hơn về mặt lợi nhuận. Chỉ số EPS kết hợp tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trên mỗi cổ
phiếu của công ty trong 2 quý gần đây nhất với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trong từ 3 đến 5
năm.


Khoảng chân không: Thuật ngữ kỹ thuật miêu tả giá mở cửa của cổ phiếu tăng lên một
khoảng so với giá đóng cửa cao của ngày hôm trước. Điểm này thường chỉ ra giai đoạn cuối
cùng trong diễn biến giá cổ phiếu sau khi đã tăng đáng kể trong nhiều tháng.


Mở rộng (giá): Thuật ngữ kỹ thuật miêu tả một điểm mà tại đó, mức giá của cổ phiếu bắt đầu
tăng lên trên mức của điểm mua vào, có độ rủi ro cao hơn khi mua vào.


Cục dự trữ Liên bang (Fed): là một cơ quan chính phủ nhằm quản lý, điều tiết và tác động
đến nguồn cung tiền quốc gia, hệ thống ngân hàng, tỷ lệ lãi suất. Cơ quan này thường tác động
đến thị trường bằng cách mua hoặc bán chứng khoán chính phủ và các hoạt động khác.
Tỷ lệ chiết khấu của Cục dự trữ Liên bang: Một biến số quan trọng của thị trường thể hiện
khoản phí các ngân hàng thành viên phải trả khi vay từ Cục dự trữ Liên bang. Việc cắt giảm tỷ
lệ này khuyến khích vay và tăng nguồn cung tiền (và ngược lại).


Chuyên mục “Mức giá trần và giá sàn trong 52 tuần”: Có thể tìm đọc hàng ngày ở trang
“Nhóm ngành” trên tờ Investor’s Business Daily. Mục này chỉ ra những nhóm ngành dẫn đầu với
số lượng lớn cổ phiếu đạt mức giá trần mới cũng như danh sách những cổ phiếu đạt mức giá
trần mới trong ngành đó (danh sách “Giá trần mới”).
“Mô hình bằng phẳng”: Một trong 3 mô hình biểu đồ cơ bản thường gặp khi phân tích kỹ
thuật. Mô hình này thường xuất hiện sau khi cổ phiếu đã kết thúc quá trình tăng trưởng theo
các mô hình “chiếc cốc có tay cầm” và “hai đáy”. Cổ phiếu biến động theo mô hình “bằng
phẳng” thường tăng trưởng nhẹ theo xu hướng thẳng trong ít nhất 5 tuần và không điều chỉnh
quá mức từ 8 tới 12%.


“45 năm nghiên cứu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng khoán”:William J. O’Neil bắt đầu sự nghiệp đầu tư với tư cách là một nhà môi giới chứng khoán. Sau
nhiều năm, ông đã phát triển một chiến lược đầu tư độc đáo dựa trên việc phân tích những cổ
phiếu thành công nhất trên thị trường trong mọi thời kỳ. Nghiên cứu này xem xét mọi yếu tố,
cả cơ bản và kỹ thuật, có thể có của mỗi cổ phiếu tại một thời điểm. Không có yếu tố nào được
coi là quan trọng hơn. William J. O’Neil khám phá ra 7 nhân tố thường xuất hiện liên tục, qua
từng chu kỳ, từ năm 1953 tới nay. Những yếu tố này đã được biết đến với tên gọi tắt dễ nhớ là
CAN SLIM, trong đó mỗi chữ cái đặc trưng cho một yếu tố.


Phân tích cơ bản: là những số liệu và thống kê đằng sau mỗi cổ phiếu. Phân tích cơ bản đánh
giá lợi nhuận, doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, lợi nhuận biên, bảng cân đối kế toán, thị
phần v.v… cũng như đánh giá về các sản phẩm của công ty, đội ngũ quản lý, và thực trạng của
doanh nghiệp. Phân tích cơ bản xác định chất lượng và sức hấp dẫn của cổ phiếu.
Giao dịch kỳ hạn: Một phương thức đầu tư mang tính đầu cơ, rủi ro cao không nên tiến hành
nếu không có sự hiểu biết chắc chắn về thị trường và một phương pháp quản lý tài chính hiệu
quả. Giao dịch kỳ hạn là những hợp đồng dựa trên sự giao hàng ở một thời điểm và mức giá
nào đó trong tương lai. Phương thức này thường được giao dịch trong 3 lĩnh vực: giao dịch có
kỳ hạn hàng hoá, giao dịch có kỳ hạn tài chính và giao dịch có kỳ hạn chỉ số.
Khoảng cách (về giá): Giá cổ phiếu ở phiên mở cửa và khối lượng giao dịch cao hơn hoặc thấp
hơn một vài điểm so với phiên giao dịch ngày hôm trước. Khoảng cách này dễ dàng được nhận
ra qua những biểu đồ biến động giá cổ phiếu hàng ngày. Có hai loại khoảng cách: khoảng rời bỏ
- xảy ra ngay sau khi cổ phiếu ra khỏi mô hình, khoảng chân không - xảy ra sau khi cổ phiếu
tăng giá trong nhiều tuần và gần chạm đỉnh.


Thị trường chung: Những chỉ số đại diện cho bức tranh toàn cảnh của thị trường chứng
khoán. Một số chỉ số thị trường chung phổ biến nhất là Dow Jones, Nasdaq, và S&P 500.
Trang “Thị trường chung và các lĩnh vực”: Chỉ có trên tờ Investor’s Business Daily, gồm
những biểu đồ lớn của mỗi chỉ số thị trường chính, được sắp xếp theo thứ tự từ trên xuống
dưới nên dễ dàng nhận ra xu hướng phát triển và sự thay đổi của thị trường. Trang này còn có
mục “Toàn cảnh”, các biểu đồ ngành, Chỉ số Quỹ tương hỗ IBD.


Danh sách “Nhóm có tỷ lệ phần trăm cổ phiếu đạt giá trần mới lớn nhất”: Một mục trên
trang “Các nhóm ngành” của tờ
Investor’s Business Daily, là cách nhanh nhất để nhận ra tốp 4
hoặc 5 ngành thật sự dẫn đầu trong toàn bộ thị trường.


Quỹ tăng trưởng: Quỹ tương hỗ chủ yếu sở hữu những cổ phiếu tăng trưởng.

Cổ phiếu/nhóm ngành/lĩnh vực tăng trưởng (và đầu tư cổ phiếu tăng trưởng): Các công
ty, các ngành, các lĩnh vực có tăng trưởng mạnh về doanh thu và lợi nhuận trong một thời gian
dài. Cổ phiếu tăng trưởng thường không chia cổ tức. Khoản vốn này được tái đầu tư vào công
ty để tiếp tục tăng trưởng trong tương lai. Thông thường 3 trong số 4 cổ phiếu thành công lớn
trên thị trường là cổ phiếu tăng trưởng.


Tay cầm: Là một phần của mô hình “Chiếc cốc có tay cầm” của Bill O’Neil. Tay cầm thể hiện
giai đoạn cuối của mô hình. Phần tay cầm có thể kéo dài một đến 2 tuần, hay lâu hơn, và cần
phải giảm xuống giá sàn hoặc đảo chiều. Giai đoạn này đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của thị
trường. Những tay cầm hợp lý hiếm khi giảm giá xuống hơn 10% hoặc 15%. Điều này thể hiện
sự sụt giảm khối lượng giao dịch (cổ phiếu không được bán ra) hoặc giá biến động không đáng
kể và trong vài tuần giá đóng cửa không thay đổi.


Làm giàu qua chứng khoán: Là một cuốn sách về đầu tư bán chạy nhất của William J. O’Neil.
Nó chỉ ra cách mua và bán cổ phiếu sử dụng chiến lược đầu tư CAN SLIM.


Mức giá trần và mức giá sàn trong ngày (hoặc trong tuần): Thể hiện bằng đồ thị cột về sự
biến động giá cổ phiếu trong ngày (hoặc tuần) dựa trên 3 biến số. Đỉnh của cột biểu hiện giá
cao nhất mà cổ phiếu giao dịch trong ngày (hoặc tuần): đó là mức giá trần trong ngày. Đáy của
cột biểu hiện mức giá thấp trong ngày (hoặc tuần): đó là mức giá sàn trong ngày. Đường cắt
nhau cho biết giá đóng cửa của cổ phiếu trong ngày (hoặc tuần).


Investor’s Business Daily: Một công cụ nghiên cứu tiết kiệm thời gian cho nhà đầu tư nhờ sử
dụng các số liệu đã được vi tính hoá. Những thông tin độc quyền này là kết quả của quá trình
“45 năm nghiên cứu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng khoán” của
William J.O’Neil. Tờ
Investor’s Business Daily cũng cung cấp nhiều chuyên mục với những kiến
thức bổ ích giúp các cá nhân cả trong công việc cũng như trong cuộc sống.


Hướng dẫn đầu tư của tờ Investor’s Business Daily: Do các biên tập viên của tờ Investor’s
Business Daily
viết, cung cấp những thông tin cơ bản giúp các nhà đầu tư thành công hơn trên
thị trường. Nó giải thích chi tiết những loại hình đầu tư khác nhau ngày nay và hướng dẫn cách
thức sử dụng phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật, cũng như các mục trên tờ
Investor’s Business
Daily
, để nhà đầu tư có thể đưa ra những quyết định khôn ngoan hơn.

Chỉ số IBD SmartSelectTM: 5 chỉ số độc quyền không chỉ có tác dụng chỉ ra những cổ phiếu
không đạt tiêu chuẩn, mà còn tìm ra những cổ phiếu tiềm năng. Đồng thời là công cụ cải thiện
kỹ năng lựa chọn cổ phiếu cũng như tiết kiệm thời gian cho các nhà đầu tư. Đó là:
Chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Chỉ số sức mạnh giá tương đối (RS)
Chỉ số sức mạnh tương đối nhóm ngành
Chỉ số Doanh thu + Lợi nhuận biên + Lợi nhuận trên vốn cổ phần (SMR)

Chỉ số tích luỹ/phân phối

Nhóm ngành: Bao gồm một số công ty riêng lẻ cung cấp những sản phẩm và dịch vụ giống
nhau. Các ngành thường cụ thể hơn các lĩnh vực.
Nhóm ngành và ký hiệu: do tờ Investor’s Business Daily xuất bản, liệt kê cổ phiếu của 197
nhóm ngành, được sắp xếp theo 3 tiêu chí (tên công ty, ký hiệu, nhóm ngành).


Chuyên mục “Biến động giá của các ngành”: Chuyên mục thường nhật của tờ Investor’s
Business Daily
, xếp hạng 197 nhóm ngành dựa trên diễn biến giá trong 6 tháng vừa qua, cho
phép bạn dễ dàng nhận ra những ngành nghề có kết quả hoạt động tốt nhất và kém nhất. 197
nhóm ngành này là sản phẩm độc quyền của tờ
Investor’s Business Daily.

Chỉ số sức mạnh tương đối nhóm ngành: Chỉ số độc quyền của tờ Investor’s Business Daily so
sánh diễn biến giá của một nhóm ngành trong 6 tháng qua với 196 nhóm ngành còn lại (trong
tổng số 197 nhóm). Được xếp hạng từ A đến E, những cổ phiếu được xếp hạng A sẽ nằm trong
số những cổ phiếu của nhóm ngành hoạt động hiệu quả nhất và E thuộc về nhóm ngành hoạt
động kém nhất.


Phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO): Các công ty phát hành cổ phiếu lần đầu ra
công chúng vì rất nhiều lý do khác nhau (để giảm nợ, nghiên cứu và phát triển, mở rộng…). Cổ
phiếu được bán cho các ngân hàng đầu tư, sau đó ngân hàng bán ra cho công chúng thông qua
các công ty môi giới chứng khoán. Nghiên cứu cho thấy rằng đa số những cổ phiếu hoạt động
hiệu quả nhất thường bắt đầu tăng trưởng mạnh trong 8 năm kể từ khi phát hành ra công
chúng lần đầu.


Những nhà đầu tư tổ chức: Các quỹ tương hỗ, các ngân hàng, các quỹ hưu trí, các công ty bảo
hiểm v.v… tham gia vào lĩnh vực đầu tư. Họ tiến hành những giao dịch trên thị trường, và tác
động đến giá cổ phiếu cũng như diễn biến thị trường.


Bảo trợ của các tổ chức: Số lượng cổ phiếu của một công ty do các tổ chức lớn sở hữu. Nguồn
cầu lớn nhất của cổ phiếu xuất phát từ những quỹ tương hỗ và những nhà đầu tư tổ chức. Khi
bạn định mua cổ phiếu, quan trọng là phải có các tổ chức bảo trợ cổ phiếu đó.
Tỷ lệ lãi suất: Cho biết những mức giá khác nhau mà ngân hàng hoặc các tổ chức khác áp dụng
cho khách hàng vay tiền.


Dẫn đầu hay tụt hậu: Nói đến những công ty hay những nhóm ngành đang hoạt động hiệu
quả hơn hay kém hơn mức trung bình của thị trường. Để tìm ra những cổ phiếu của những
nhóm ngành dẫn đầu, phải xem xét chỉ số sức mạnh giá tương đối và chỉ số sức mạnh tương
đối nhóm ngành trên tờ
Investor’s Business Daily.

Phí quản lý (đối với các quỹ tương hỗ): Một khoản phí nhỏ, thường ở mức 0,5% hoặc 1%
mỗi năm, trả cho đội ngũ quản lý của các quỹ tương hỗ để điều hành và quản lý danh mục đầu
tư của quỹ.


Chủ sở hữu quản lý: Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu thường mà ban quản lý công ty sở hữu. Tỷ lệ
này càng cao thì càng chứng tỏ họ tận tâm với công ty.


Tài khoản tiền bảo chứng: Là tài khoản giao dịch môi giới cho phép bạn sử dụng tiền đi vay
từ các công ty môi giới khi mua bán cổ phiếu.


Đáy thị trường: Là giai đoạn toàn bộ thị trường đạt điểm thấp trước khi chuyển hướng sang
giai đoạn phục hồi.


“Những chỉ số lĩnh vực thị trường”: Những biểu đồ nhóm ngành hàng ngày trên tờ Investor’s
Business Daily
trong trang “Thị trường chung và các lĩnh vực”, và “Các nhóm ngành”. Bao gồm
những ngành chính như hàng thiết yếu Dow Jones, công nghệ cao và an toàn… được sắp xếp
theo chỉ số sức mạnh tương đối. Rất hữu ích trong việc tìm kiếm những ngành đang dẫn đầu
thị trường.


Những nhà quản lý quỹ: Các chuyên gia quản lý danh mục đầu tư của các tổ chức như quỹ
tương hỗ, ngân hàng, quỹ hưu trí hay công ty bảo hiểm.


Các quỹ thị trường tiền tệ: Là các quỹ đầu tư hàng đầu vào trái phiếu kho bạc (T-bills) và
những khoản nợ chính phủ.
Quỹ tương hỗ: Một danh mục đa 
dạng hoá cổ phiếu do một công ty đầu tư chuyên nghiệp
quản lý với khoản phí quản lý nhỏ.


Chỉ số Quỹ tương hỗ: Chỉ số độc quyền của quỹ tăng trưởng nội địa, xuất hiện hàng ngày trên
trang “Thị trường chung và các lĩnh vực” của tờ
Investor’s Business Daily. Nó có thể được sử
dụng như một chỉ dẫn thị trường chung giống như một số chỉ số cơ bản khác.
Chỉ số Nasdaq: Chỉ số của Hiệp hội quốc gia những nhà kinh doanh chứng khoán, thể hiện sự
biến động của cổ phiếu.
Thị trường Nasdaq: Hệ thống máy tính nối mạng toàn cầu mà ở đó các cổ phiếu được giao
dịch ngoài sở giao dịch, không giống như Thị trường chứng khoán New York (NYSE) - nơi cổ
phiếu phải được giao dịch trực tiếp trên sàn giao dịch.


Giá trị tài sản ròng: Được đưa vào xem xét chi phí quản lý quỹ, là giá trị trên mỗi cổ phiếu của
tài sản quỹ.


Giá trần mới: Đề cập đến một cổ phiếu đạt mức giá trần mới khi so sánh với mức giá trần cũ
trong 52 tuần trước đó.


Thị trường chứng khoán New York (NYSE): Được thành lập năm 1792, là một thị trường lâu
đời nhất và lớn nhất của Mỹ - nơi người mua và người bán giao dịch thông qua các nhà môi
giới. Trụ sở của thị trường này nằm trên phố Wall, thành phố New York.


Khái niệm “ngày lấy đà 1%”: Khái niệm do William J. O’Neil phát triển nhằm nhận biết
những thay đổi quan trọng trong xu hướng thị trường chung (giảm hay tăng). Từ lúc bắt đầu
giai đoạn phục hồi trong xu hướng giảm, một ngày “lấy đà” được xác định khi chỉ số đóng cửa
tăng 1% hoặc hơn trong ngày có khối lượng giao dịch tăng đáng kể so với phiên giao dịch của
ngày hôm trước. Hai hoặc 3 ngày đầu tiên trong giai đoạn phục hồi chưa chứng tỏ là sẽ phục
hồi và “lấy đà” thành công. Do đó, ngày “lấy đà” thường xảy ra vào ngày thứ tư trong giai đoạn
7 ngày phục hồi. Ngày “lấy đà” khẳng định thị trường thay đổi thật sự và chuẩn bị một xu

hướng tăng mới.

Quyền chọn: Hợp đồng mua vào hay bán ra cổ phiếu ở mức giá cụ thể trong một thời điểm cụ
thể trong tương lai. Quyền lựa chọn thường biến động và có rủi ro cao.
Giao dịch trên giấy: là giao dịch ảo giống như đang giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán
nhưng không sử dụng tiền thật. Giao dịch ảo không có cảm giác hy vọng và lo sợ như khi đầu tư
thật sự.


Điểm mua: Điểm mua tốt nhất của cổ phiếu xuất hiện từ mô hình biểu đồ hợp lý (các mô hình
phổ biến nhất là “chiếc cốc có tay cầm”, “hai đáy” và “bằng phẳng”) và đạt mức giá trần mới.
Đây là điểm có mức kháng cự thấp nhất và thông qua nghiên cứu của William J. O’Neil, có cơ
hội lớn để giá và khối lượng giao dịch tăng cao hơn so với hiện tại và quá khứ.
Quản lý danh mục đầu tư: Đề cập đến số lượng cổ phiếu bạn đang sở hữu và các phương
pháp, chiến lược để mua thêm, cắt giảm hay bán cổ phiếu; cách thay đổi danh mục đầu tư và
đưa ra những quyết định kịp thời.


Hậu phân tích: Là một quá trình quan trọng nhằm đánh giá thành công và thất bại trên thị
trường chứng khoán thông qua nghiên cứu những hoạt động mua vào, bán ra trước đó trong
một giai đoạn cụ thể và chỉ ra được những cổ phiếu đem lại lợi nhuận và những cổ phiếu thua
lỗ. Hậu phân tích cho phép các nhà đầu tư nâng cao hiệu quả đầu tư trong tương lai nhờ học
hỏi những thất bại trong quá khứ.


Tỷ số giá trên lợi nhuận (P/E): Đánh giá giá trị của một cổ phiếu bằng cách chia giá hiện tại
của cổ phiếu với lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu trong 12 tháng qua. Khi tỷ số P/E của cổ phiếu
cao, giá của cổ phiếu sẽ được các nhà đầu tư cho là quá cao. Cổ phiếu có P/E thấp thường được
xem là có giá trị tốt. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị
trường, William J. O’Neil phát hiện ra một sự thật trái ngược là: cổ phiếu có P/E càng cao thì
càng tốt. Mức P/E trung bình của những cổ phiếu thành công nhất trong 15 năm qua tại điểm
mua đầu tiên trước khi chúng tăng giá gấp 31 lần lợi nhuận. Nhưng tỷ số P/E này còn có thể
lớn hơn 100%, tức là gấp 70 lần lợi nhuận khi các cổ phiếu tăng giá đáng kể. Nhiều nhà đầu tư
thường hiểu lầm và sử dụng sai tỷ số P/E.


Giá trị sổ sách: So sánh giá trị của cổ phiếu trên thị trường (được xác định bằng giá hiện tại
của cổ phiếu) với giá trị tổng tài sản của công ty thấp hơn tổng số nợ của công ty (giá trị sổ
sách). Dựa vào “45 năm nghiên cứu những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng
khoán” của William J. O’Neil, phương pháp này không có ý nghĩa gì đối với những cổ phiếu
hàng đầu.


Biểu đồ giá và khối lượng giao dịch: Những biểu đồ hàng tuần, hàng ngày, hàng tháng phản
ánh diễn biến giá và khối lượng giao dịch của cổ phiếu. Hầu hết các nhà đầu tư chuyên nghiệp
đều sử dụng chúng trong việc lựa chọn cổ phiếu.


Đường giá trên biểu đồ: Thanh ngang trên biểu đồ thể hiện lịch sử giá của cổ phiếu. Mỗi
đường thẳng đứng thể hiện diễn biến giá trong một ngày (hoặc tuần), chỉ ra mức giá cao nhất
và thấp nhất của cổ phiếu giao dịch trong ngày (hoặc tuần đó). Những đường cắt ngang thể
hiện giá đóng cửa của cổ phiếu trong cùng khoảng thời gian.


Xu hướng tăng trước đó: Khái niệm được những nhà đầu tư nghiên cứu biểu đồ sử dụng để
xác định xu hướng biến động của giá cổ phiếu trong vài tháng dựa trên cơ sở giá của những
tháng trước đó. Những cổ phiếu tiềm năng nhìn chung thường cho thấy xu thế tăng trước đó
và ngược lại.


Báo cáo lợi nhuận và thua lỗ: Là báo cáo hàng quý hoặc hàng năm, cho biết khả năng sinh lợi,
doanh thu và chi phí của doanh nghiệp.


Lợi nhuận biên (trước thuế, sau thuế): Phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, thể
hiện dưới dạng phần trăm. Lợi nhuận biên cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng sinh lợi tốt.
Có thể được tính toán bằng cách chia lợi nhuận trước thuế (lợi nhuận biên trước thuế) hoặc lợi
nhuận sau thuế (lợi nhuận biên sau thuế) của doanh nghiệp cho tổng thu nhập.


Bản cáo bạch: Là bản thông tin chính thức được các công ty hay các quỹ tương hỗ công bố
theo yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán (SEC). Bản cáo bạch bao gồm các chiến lược/mục tiêu
đầu tư, kế hoạch, các số liệu ngắn hạn hoặc dài hạn, rủi ro, cạnh tranh, cổ phần, thông tin về
ban quản lý của một công ty hay một quỹ.


Những chỉ số thị trường đo lường tâm lý: Những chỉ số kỹ thuật như tỷ số giữa khối lượng
mua vào và bán ra, hay tỷ lệ phần trăm những cố vấn thị trường đánh giá thị trường đang lên
hay xuống có thể đo lường tâm lý của các nhà đầu tư.


Tỷ số mua – bán: Là khối lượng giao dịch quyền chọn mua chia cho khối lượng giao dịch
quyền chọn bán trên thị trường. Tỷ số mua – bán cao (mua nhiều hơn bán) là dấu hiệu thị
trường sụt giá và ngược lại.


Sự phục hồi (và sự phục hồi giả): Là một nỗ lực phục hồi của một cổ phiếu hoặc thị trường
chung để tăng giá trở lại sau thời gian suy giảm. Phục hồi thành công thường được phản ánh
thông qua sự tăng giá đều đặn với khối lượng giao dịch lớn hơn mức trung bình. Phục hồi giả là
khi giá tăng lên nhưng khối lượng giao dịch không tăng, cho thấy cổ phiếu đang không được
mua vào nhiều trên thị trường. Sự phục hồi giả thường không kéo dài và không trở lại được
mức giá ban đầu.


Đường sức mạnh tương đối: Đường này có trên tất cả các biểu đồ chất lượng tốt. Nó so sánh
diễn biến giá của một cổ phiếu với toàn thị trường. Nếu đường sức mạnh tương đối có xu
hướng đi lên, các cổ phiếu có xu hướng hoạt động tốt hơn ở thị trường rộng lớn hơn (như S&P
500). Nếu xuất hiện xu hướng đi xuống, tức là cổ phiếu tụt lại phía sau thị trường. Nhà đầu tư
khôn ngoan thường tránh những cổ phiếu có đường sức mạnh tương đối theo xu hướng đi
xuống.


Chỉ số sức mạnh giá tương đối (RS) (hay Sức mạnh tương đối): Là chỉ số độc quyền của tờInvestor’s Business Daily. Chỉ số này đo diễn biến giá của mỗi cổ phiếu trong 12 tháng gần đây
với tất cả các cổ phiếu khác. Những cổ phiếu có chỉ số RS dưới 70 cho thấy nó là một cổ phiếu
hoạt động kém hiệu quả hơn.


Lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE): Là chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn tài chính của
công ty. Những cổ phiếu từng thành công nhất trên thị trường chứng khoán thường có chỉ số
ROE từ 17 đến 50% trước khi thu được lợi nhuận lớn.


Tăng trưởng doanh thu: Là tỷ lệ tăng trưởng doanh thu hàng năm hoặc hàng quý của công ty.
Nó đánh giá mức tăng trưởng và sự thành công của công ty cũng như mức tăng trưởng lợi
nhuận trên mỗi cổ phiếu.


Chỉ số doanh thu + Lợi nhuận biên + ROE (SMR): Là chỉ số độc quyền của tờ Investor’s
Business Daily
nhằm giúp những nhà đầu tư nhận ra công ty có tăng trưởng doanh thu, lợi
nhuận biên và lợi nhuận trên vốn cổ phần lớn khi so sánh với các công ty khác không. Chỉ số
này được xếp từ A đến E, với A là tốp 20% dẫn đầu về doanh thu, lợi nhuận biên và ROE; B là
tốp 40% v.v… Đây là một trong 5 chỉ số của
SmartSelectTM.

Các lĩnh vực: Bao gồm một số các nhóm ngành. Chẳng hạn như, lĩnh vực công nghệ cao hoặc
tiêu dùng có thể bao gồm một số ngành khác nhau.
Biểu đồ các lĩnh vực: Xuất hiện trên trang “Thị trường chung và các lĩnh vực” của tờ Investor’s
Business Daily
. Biểu đồ này chỉ ra tỷ lệ phần trăm tăng trưởng trong 3 tháng gần đây nhất của
các lĩnh vực dẫn đầu. Biểu đồ các lĩnh vực rất có ích, giúp các nhà đầu tư xác định sức mạnh của
mỗi lĩnh vực.


Uỷ ban chứng khoán (SEC): Một cơ quan của chính phủ điều hành và kiểm soát các giao dịch
chứng khoán.
Đảo chiều: Sự điều chỉnh giá mạnh của cổ phiếu (thường là dưới điểm giá hiện tại) trước khi
tăng giá trở lại
Bán khống: Các nhà đầu tư vay mượn cổ phiếu của các công ty môi giới và bán với hy vọng cổ
phiếu sẽ giảm giá để mua lại số cổ phiếu đó với giá thấp hơn giá họ bán ra. Nhờ đó, họ kiếm
tiền bằng cách hưởng chênh lệch giữa mức giá bán ban đầu và mức giá mua thấp hơn. Bán
khống là một việc làm khó và thường không dành cho những nhà đầu tư mới hay ít kinh
nghiệm.


Những cổ phiếu vốn nhỏ: Là cổ phiếu của những công ty có một số lượng nhỏ cổ phiếu
thường sáng giá


Chỉ số bảo trợ: Là chỉ số trên tờ Investor’s Business Daily giúp các nhà đầu tư biết được cổ
phiếu mình sở hữu có được các quỹ tương hỗ mua vào ở thời điểm hiện tại không. Chỉ số này
được xếp từ A đến E, với A là tốp 20% cổ phiếu hoạt động tốt và được nhiều quỹ sở hữu, B là
tốp 40%, v.v…


Chênh lệch giá: Là khoảng cách chênh lệch giữa giá chào bán và giá đặt mua của một cổ phiếu.
Tất cả những cổ phiếu ở thị trường chứng khoán New York và Nasdaq đều có sự khác biệt về
mức giá chào bán và giá đặt mua.
“Giai đoạn” của mô hình: Thuật ngữ đề cập đến số giai đoạn của các mô hình mà một cổ
phiếu hình thành khi nó tăng giá. Những cổ phiếu tăng giá thành công trong một năm có thể
bao gồm 2, 3 hoặc 4 mô hình tăng giá trước khi bước vào giai đoạn giảm giá. Mô hình đầu tiên
được nói đến như một mô hình “giai đoạn đầu tiên”, mô hình thứ hai được coi như “giai đoạn
thứ hai”…

Chững giá (trên một trong số các chỉ số): Thuật ngữ chỉ ra một diễn biến giá xảy ra trong một
trong số các chỉ số thị trường chung (như chỉ số Dow Jones, S&P 500 hay Nasdaq). Nó xảy ra
khi giá đóng cửa tăng không đáng kể, không thay đổi hoặc giảm nhẹ trong khi khối lượng giao
dịch tăng từ ngày hôm trước (sau khi tăng đáng kể trong một vài ngày). Điều này cho thấy sự
phân phối hoặc bán ra của chỉ số ở điểm đó.
Standard & Poor 500 (S&P 500): Là chỉ số của 500 công ty chính, trong đó có 400 công ty
công nghiệp, 20 công ty vận tải, 40 công ty hàng tiêu dùng, và 40 công ty tài chính. Chỉ số này
đo lường giá trị thị trường.
Phân tích kỹ thuật: Nghiên cứu giá và khối lượng giao dịch của cổ phiếu thông qua việc sử
dụng các biểu đồ để phân tích hoạt động giao dịch trên thị trường.
10K/10Q: 10K là một bản báo cáo hàng năm, 10Q là báo cáo hàng quý theo yêu cầu của Uỷ
ban chứng khoán. Chúng cung cấp thông tin toàn diện về hoạt động kinh doanh của công ty
trong thời gian gần đây.


Chỉ số hoạt động quỹ tương hỗ trong 36 tháng: Được xếp theo thứ tự (từ A+ tới E) theo dõi
quá trình hoạt động trong 3 năm của các quỹ tương hỗ. Những quỹ xếp hạng A+ nằm trong
nhóm 5% quỹ hoạt động tốt nhất, quỹ xếp hạng A nằm trong tốp 10% v.v…


Cổ phiếu đã xoay vòng: Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong một thời gian nhưng
hiện tại có doanh thu và lợi nhuận tăng trở lại do có ban quản lý mới, sản phẩm mới hoặc
những cải tiến mới. Trong quá khứ, chỉ có 1 trong 4 cổ phiếu thành công nhất đi lên từ tình
trạng xoay vòng.


Chỉ số doanh thu: Số lượng cổ phiếu giao dịch trong một năm như tỷ lệ phần trăm cổ phiếu do
một quỹ tương hỗ sở hữu, chỉ ra hoạt động giao dịch của quỹ. Nhiều quỹ tăng trưởng mạnh mẽ
có chỉ số doanh thu cao.


Đầu tư giá trị: Là chiến lược đầu tư tập trung vào các công ty bị đánh giá thấp (tỷ số P/E thấp,
giá trị trên sổ sách thấp v.v…). Nó chủ yếu tập trung vào những yếu tố cơ bản và ít tập trung
vào những yếu tố kỹ thuật. Các cổ phiếu giá trị được coi như những cổ phiếu giá rẻ và chất
lượng tốt. Một quỹ giá trị là một quỹ tương hỗ đầu tư vào những cổ phiếu bị đánh giá thấp.
Tính không ổn định: Là thước đo sự không ổn định về giá của cổ phiếu. Nó đặc trưng bằng
việc giá dao động lên xuống thường xuyên.
Khối lượng giao dịch: Cho thấy số lượng cổ ph
iếu được giao dịch hàng ngày hoặc hàng tuần.
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức cung cầu của cổ phiếu.
Tỷ lệ phần trăm thay đổi khối lượng giao dịch: Cho biết những giao dịch bất thường của
một cổ phiếu. Phương pháp này đo khối lượng giao dịch trung bình hàng ngày so với khối
lượng giao dịch 50 ngày trước đó và chỉ cho bạn khối lượng giao dịch nhiều hơn hay ít hơn
mức trung bình ngày hôm qua. Nó giúp bạn nhận ra dòng tiền của những nhà đầu tư tổ chức đổ
vào và rút ra khỏi một cổ phiếu như thế nào.


Mục “Nơi dòng tiền chảy nhiều nhất”: Là mục quan trọng trong tờ Investor’s Business Daily
(ở đầu các bảng cổ phiếu NYSE và Nasdaq) đánh dấu các cổ phiếu có tỷ lệ phần trăm khối
lượng giao dịch tăng lớn nhất so với những ngày trước đó. Đó thường là dấu hiệu chỉ ra những
nhà đầu tư tổ chức mua vào hoặc bán ra cổ phiếu.


William O’Neil + Co.,: Được thành lập vào năm 1963, là công ty đầu tiên cung cấp cơ sở dữ
liệu về những cổ phiếu thành công nhất trên thị trường chứng khoán Mỹ từ năm 1953. Ngày
nay, những nghiên cứu về chứng khoán của công ty đã được vi tính hoá cho hơn 400 nhà đầu
tư tổ chức lớn trên toàn thế giới sử dụng