Thứ Tư, 19 tháng 2, 2020

KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN



2. Trọng tiền (monetarism) là một trường phái kinh tế gắn liền nhất với tên tuổi của Milton Friedman, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1976. Nguyên lý căn bản nhất của trường phái này là: các thay đổi trong cung tiền tệ là nguyên nhân quan trọng nhất làm thay đổi GDP. Những thay đổi này của GDP, khi được đo lường bằng đồng đô-la, có thể được chia làm 2 bộ phận cấu thành: phần “thực chất”, mang lại các món lợi thực sự, và phần “do lạm phát”, chỉ tạo ra các lợi nhuận ảo. Lấy phần GDP tăng trưởng “thực chất” cộng với phần tăng “do lạm phát” sẽ biết được sự gia tăng của GDP danh nghĩa, tính theo đồng đô-la.
Đóng góp của Friedman nhằm chứng minh rằng tăng lượng cung tiền để tăng sản lượng đầu ra chỉ có hiệu quả đến một mức giới hạn nào đó; còn khi vượt giới hạn này thì mọi sự gia tăng theo danh nghĩa đều là do lạm phát chứ không phải là thực chất. Trên thực tế, Fed có thể in tiền để đạt tăng trưởng danh nghĩa, nhưng có một mức độ giới hạn sự tăng trưởng thực tế. Fried man cũng kết luận rằng các ảnh hưởng do lạmn phát khi tăng lượng cung tiền sẽ xuất hiện với một độ trễ nhất định, vì vậy trong ngắn hạn thì việc in tiền vẫn có thể làm tăng GDP thực tế, nhưng sau đó lạm phát sẽ xuất hiện và triệt tiêu những lợi ích ban đầu.

1.Tại sao mỗi lần FED Mỹ tăng lãi suất tí tẹo 0.25% là kinh tế tài chính của các nước mới nổi và đang phát triển đảo lộn, phải có tất cả những biện pháp tự vệ và trả giá cho những biện pháp tự vệ này bằng cách mang nặng thêm nợ công bằng usd. Nếu họ không có biện pháp tự vệ thì nguy cơ trở thành Venezuela là hiện thực. Những NĐT ngoại và quỹ đầu tư với số lượng usd từ vài triệu tới vài chục tỷ usd phải luôn luôn thay đổi cách đầu tư, chuyển dịch vốn cho phú hợp với tình huống (nếu đầu tư tệ thì mất chức, mất lương hàng triệu usd/năm cho mỗi GĐ quỹ). Có hai loại đầu tư là đầu tư lãi suất cố định (fixed interst investment như trái phiếu, cho NH vay với lãi suất thỏa thuận trước v.v..) và đầu tư cổ phần (equity investment). Khi lãi suất thấp thì họ đầu tư vào cổ phiếu, sinh lợi cao hơn và có rủi ro tỷ giá (exchange rate risks). Nhưng khi lãi suất cao thì họ bán cổ phiếu, thu usd về và chuyển qua đầu tư lãi suất cố định. Chính động tác này làm usd khan hiếm ở những QG đang phát triển, điều này làm tỷ giá tăng cao. Để giới hạn usd bay ra khỏi QG họ, họ phải tăng lãi suất nội tệ. Khi tăng lãi suất nội tệ thì sẽ tạo suy trầm hay suy thoái tùy QG nhưng chắc chắn rằng sau độ chậm chừng 6 tháng hay 1 năm thì GDP sẽ giảm rất sâu. Những quỹ đầu tư này bất cứ nơi nào trên thế giới chỉ vài cú nhấp chuột là họ chuyển dịch dòng vốn đầu tư vài tỷ đô đến vài chục tỷ đô đi từ Singapore đến Frankfurt, London, Paris, New York, Sudney v.v..

0 comments:

Đăng nhận xét