• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

GAP - Lưu ý quan trọng

 Gap là một vùng trống không giao dịch của cổ phiếu, GAP xảy ra do một số lượng lớn lệnh nhất định được gửi vào thị trường, tuy nhiên không có đủ nguồn cung cấp cho lượng lệnh đối ứng, vì vậy giá cổ phiếu nhảy lên, hoặc giảm xuống một mức giá mới, nơi ở đó có đủ lệnh đối ứng. Tại vùng mở GAP, nơi  không có giao dịch đối ứng trên đồ thị sẽ hiển thị một vùng trống giá không hoạt động, thường sẽ được lấp lại sau quá trình tăng lên hoặc giảm xuống của cổ phiếu.

I.    Phân loại GAP

- Với đặc tính thay đổi giá, GAP chia làm hai loại: GAP TĂNG - GAP GIẢM (UP DOWN)

- Với đặc tính sức mạnh, GAP chia làm hai loại: GAP SỨC MẠNH – GAP ĐIỂM YẾU.

►    Xu hướng thị trường có khả năng quay về lấp GAP rất cao. Nhưng vẫn có trường hợp không lấp.

Hiểu và vận dụng GAP trong đầu tư là rất quan trọng. Đôi khi GAP tăng là tốt, hoặc GAP giảm là tốt và ngược lại. Trong bài biết này chúng ta sẽ đi từng trường hợp cụ thế để phân tích rõ ràng về đặc điểm và cách xác nhận các loại GAP.

1.    GAP tăng: (GAP UP)

Giá cổ phiếu được đẩy lên một mốc giá cao hơn và vùng trống giao dịch ở giữa. Có thể chia GAP tăng thành 2 loại: Gap tăng sức mạnh và Gap tăng điểm yếu


•    Gap tăng điểm yếu: Thường là loại GAP tăng không tốt, nó thể hiện sự tăng giá đơn giản chỉ vì sự fomo bởi cầu nhỏ lẻ đẩy giá ngay đầu phiên bằng tin tức & thông tin đột biến từ doanh nghiệp, hoặc quán tính tăng từ đà tăng giá ngày hôm trước. Gap tăng điểm yếu chúng sẽ thường lấp lại và thường cảnh báo cho sự rủi ro hơn là cơ hội. Có 2 dạng thường thấy: Gap ngẫu nhiên trong đà tăng giá và Gap kiệt sức ở vùng đỉnh. 

o    Nguyên ngân: GAP tăng mở ra mà do nhỏ lẻ đẩy lệnh hoặc fomo, thì có khả năng Gap sẽ lấp lại bởi các lệnh bán xuống mà không có sự đỡ giá, vì tổ chức họ chưa muốn xảy ra nhu cầu này, quá trình tăng giá chỉ diễn ra khi gap được lấp và rũ nguồn cung nhỏ lẻ của cổ phiếu.



•    Gap tăng sức mạnh: Thường là loại Gap tăng không phổ biến, xuất hiện với tần suất ít hơn. Gap up này thường thì cổ phiếu bật tăng từ điểm pocket pivot, hoặc nền tích lũy, hoặc khu vực có vùng nhà đầu tư kẹp hàng, điểm kháng cự mạnh của cổ phiếu… Gap tăng sức mạnh ít có khả năng lấp lại trong trung hạn. Đây thường là dấu hiệu của cơ hội để tạo đà tăng giá mới của cổ phiếu.

o    Nguyên nhân: GAP up mở ra do các nhà đầu tư tổ chức chủ động đẩy lệnh (trường hợp này là gap sức mạnh) để giữ các nhà đầu tư không có tâm lý bán ra cổ phiếu ở vùng kháng cự cũ. Hoặc chủ động xác nhận cho một đà tăng giá mới! Có nghĩa là tạo tâm lý có lời ngay lập tức để giữ các nhà đầu tư không bán ra nhằm làm giảm lượng cung của thị trường, xác nhận xu thế giá mới và mua lại hết nguồn cung đó.


•    SỰ XÁC NHẬN: Gap tăng sức mạnh khác với điểm yếu ở một vài đặc điểm. 

Đối với Gap tăng điểm yếu, thường ở vùng giá bất kì trong hành vi giá, thì cổ phiếu có xu hướng sẽ lấp lại gap nếu volume có xu hướng giảm dần trong phiên đó hoặc các phiên sau. Gap tăng điểm yếu còn có thể báo hiệu cho dấu hiệu cho sự đảo chiều vùng đỉnh sau một đà tăng giá mạnh của cổ phiếu, tuy nhiên Gap tăng mạnh vùng đỉnh có thể có volume lớn vì sự phân phối hàng giữ tổ chức & nhỏ lẻ. Còn đối với Gap tăng sức mạnh – thường volume các phiên này là volume đột biến và tạo xu hướng mới sau đà tích luỹ. Volume  lớn thể hiện sự mua lại nguồn cung hàng của cổ phiếu sau quá trình tích luỹ để xác nhận xu hướng tăng giá mới.



2.    GAP giảm: (GAP DOWN)

Giá cổ phiếu đột ngột giảm xuống một mức giá thấp hơn và xuất hiện vùng trống giao dịch ở giữa. Có thể chia GAP giảm thành 2 loại: Gap giảm sức mạnh và Gap giảm điểm yếu. Gap giảm có vùng trông giao dịch ở phía trên. Gap giảm thường xảy ra ở thời điểm thị trường yếu hoặc cổ phiếu bị bán tháo liên tục và tới ngưỡng phục hồi.


•    Gap giảm sức mạnh: nó cũng xuất hiện trong quá trình đi xuống của giá, và giá có xu hướng sẽ lấp lại gap này bằng nhịp tăng ngắn hạn (phục hồi kĩ thuật) hoặc đảo chiều vùng đáy. Thường Gap giảm sức mạnh nó lại là cơ hội, vì xu hướng giá có khả năng đi lên hoặc đảo chiều nếu giá đang ở vùng đáy.

o    Đặc biệt: Gap giảm sức mạnh thường cho thấy có volume lớn, nếu đảo chiều vùng đáy thì lại càng có volume lớn càng tin cậy. Gap giảm sức mạnh tạo cơ hội cho việc thoát hàng ra khỏi cổ phiếu nếu cổ phiếu vẫn còn xu hướng giảm, hoặc cơ hội mua khi cổ phiếu đảo chiều từ vùng đáy. Nhưng nếu chỉ đơn giản là nhịp hồi kĩ thuật, volume của gap giảm sức mạnh thường giảm dần, cho thấy sự thiếu động lực mua. (Thường Gap giảm sức mạnh xảy ra với VNINDEX khá nhiều)



•    Gap giảm điểm yếu: xuất hiện ít hơn, thường là sau một xu hướng tăng dài của cổ phiếu hoặc đang trong vùng tích luỹ và giá đột ngột giảm xuống khỏi mức hỗ trợ, nền tích luỹ, cho thấy sự đảo chiều hoặc ngưỡng phục hồi mạnh sau đà giảm. Gap loại này thường sẽ có volume lớn đột biến.


3.    TỔNG KẾT

•    Không có cổ phiếu nào tăng mãi, cũng không có cổ phiếu nào giảm mãi, sẽ có những nhịp hồi phục và tạo gap liên tục. Đánh giá và sử dụng GAP là cách nhận diện cơ hội hoặc rủi ro một cách hiệu quả. Thường Gap sẽ thuần thục khi bạn giao dịch nhiều và để ý sự vận động của các Gap xuất hiện trên thị trường.

Ví dụ thực tế: (bài này mình có viết một lần trên tài khoản Nhật ký Chứng khoán VSA Official – có đề cập đến ví dụ này trong chính ngày hôm đó) 

Sáng nay, mình có để ý thấy 2 mã mở GAP Down.

1.    GEX: mở gap down ngay từ phiên sáng. Với kinh nghiệm cá nhân, ae không nên đua lệnh bán với cổ phiếu như vậy. Khả năng ngắn hạn hoặc trung hạn cổ phiếu sẽ lấp lại vùng gap này khi thị trường ổn định hoặc ngay trong phiên. - Nếu lấp ngay trong phiên mà thị trường xấu cổ phiếu có khả năng vẫn giảm tiếp. Nhưng nếu không lấp, hoẵc bật tăng trở lại, có thể đây là đáy phục hồi của cổ phiếu để tạo mẫu hình tích lũy tiếp theo.


2. APG: Mở gap up trong lúc thị trường xấu. Với kinh nghiệm cá nhân thì khả năng lấp gap là rất cao, anh em ko nên đua lệnh mua cổ phiếu khi mở gap kiểu này. Mình tin là có nhiều người sẽ kẹp cổ phiếu này lúc sáng. Không đánh giá là cổ phiếu có lên nữa hay không. Nhưng nếu muốn mua, hãy mua ở giá lấp gap. Cổ phiếu sẽ quay về lấp gap nếu thị trường yếu, còn thị trường mạnh hoặc tạo trend sóng ngành, có thể không cần lấp gáp.

Một vài case mình mua trọn từ đáy lên đỉnh cổ phiếu:

•    Điển hình DIG.


- Ở phiên này 4/8/2021. Mình đánh giá vùng 27 là vùng kháng cự mạnh của DIG hiện tại, mở đầu phiên DIG mở gap tăng, với số lượng lệnh lớn nhiều, thanh khoản bắt đầu gia tăng hơn trung bình. Mình đánh giá đây là GAP UP sức mạnh. Mình tham gia ngay khi cổ phiếu tăng ở mức 2-3%. Và sau đó ăn trọn đến vùng giá 35 thì mình chốt lời.

- Tiếp tục quãng thời gian sau khi DIG tích lũy mẫu hình cờ BULL FLAg, mình quan sát thấy ngày 6/10 Dig tiếp tục mở GAP up với mức giá break đường trendline. Đợt này thì mình khá chắn chắn DIG sẽ chạy nhưng do đang nắm dòng chứng khoán nên mình không để ý. Và nhịp 2 DIG chạy một mạch đến thời điểm hiện tại.

- Việc đánh giá GAP sức mạnh hay GAP điểm yếu nó là kinh nghiệm mn quan sát nhiều hành động giá của cổ phiếu. Việc mở GAP nếu liên quan đến tổ chức hoặc đội lái thì GAP này có thể là GAP sức mạnh. Còn nếu việc mở GAP mà do nhỏ lẻ fomo tạo cầu hoặc cung bán xuống thì khả năng lấp gap là rất cao.
Hiểu và thực hành sử dụng GAP nó là một kĩ năng mn nên thuần thục. Để tránh trường hợp bán non, hoặc lỡ đà chạy của sóng.

Ngoài ra còn rất nhiều case các bạn có thể tham khảo, và Fireant cung cấp trong bộ lọc Amibroker 2 bộ lọc về Gap tăng và Gap giảm trong phiên – bạn hoàn toàn có thể sử dụng để scan ra các điểm mua Gap up break từ vùng tích luỹ.

•    Đừng sợ GAP - đánh giá, quan sát, sử dụng GAP là một kĩ năng vô cùng quan trọng.

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

BCTC công ty chứng khoán

 Các điểm cần chú ý khi xem báo cáo tài chính của ngành chứng khoán

Ngành chứng khoán nói riêng và tài chính nói chung có những đặc thù riêng có nên không thể áp dụng các phương pháp phân tích đánh giá báo cáo tài chính như các đối tượng doanh nghiệp khác. Đối với ngành này, điều quan trọng nhất là xem xét doanh nghiệp mục tiêu có thể mạnh và chiến lược kinh doanh thuộc những mảng nào để chúng ta chú trọng vào phân tich chi tiết thế mạnh đó:

Thứ nhất theo quy định có hiệu lực từ đầu năm 2017 Công ty chứng khoán có 3 loại tài sản tài chính (TSTC) là: FVTPL, AFS và HTM.

– HTM chủ yếu là tiền gửi ngân hàng (ở mốt số công ty có khoản mục này rất lớn như SSI, VND là do họ có nghiệp vụ kinh doanh nguồn vốn hưởng chênh lãi suất) nên không liên quan đến việc ghi nhận lãi không thường xuyên từ danh mục tự doanh. Còn lại là FVTPL và AFS.

– Tài sản tài chính ghi nhận qua lãi lỗ (FVTPL) – theo quy định mới, TSTC FVTPL sẽ được hạch toán theo giá thị trường thay vì giá vốn điều chỉnh cho các khoản lỗ chưa thực hiện từ 2016 trở về trước. Theo đó các khoản lãi chưa thực hiện nhờ thị giá cao hơn giá vốn sẽ được ghi nhận cho dù chứng khoán đã được bán hay chưa và thị giá vào ngày cuối quý trước sẽ được lấy làm giá để tính lỗ/lãi chưa thực hiện cho quý tiếp theo.

– Tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS): lãi/ lỗ chưa thực hiện sẽ không hạch toán trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh. Lỗ chưa thực hiện sẽ đi vào bảng có tên “báo cáo thu nhập toàn diện khác”. Sau đó được ghi nhận trực tiếp vào mục “đánh giá lại tài sản” trong phần vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán. Lãi chưa thực hiện (thị giá cao hơn giá vốn) sẽ không được ghi nhận vào lợi nhuận. Đến khi chứng khoán được bán thì khoản lãi này mới được ghi nhận vào lợi nhuận trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh.

– Việc phân loại TSTC FVTPL và AFS có thể gây khó hiểu cho nhà đầu tư do các công ty chứng khoán được phép phân loại TSTC là FVTPL hay AFS theo mong muốn chủ quan của họ. Do vậy các công ty chứng khoán sẽ có chính sách riêng khi phân loại các TSTC này.

Thứ hai đánh giá hiệu quả kinh doanh từng mảng của công ty chứng khoán:

– Khác với các doanh nghiệp sản xuất thương mại hay các loại hình khác doanh thu và chi phí ghi trên báo có KQKD là con số tổng hợp, đối với công ty chứng khoán doanh thu và chi phí của từng mảng được tách biệt rất rõ ràng và chi tiết. Do đó tính hiệu quả kinh doanh của mỗi mảng thường rất đơn giản, chúng ta lấy doanh thu của từng mảng trừ đi chi phí là ra lợi nhuận gộp của mỗi mảng đó

– Những công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất thường đi kèm với đó là kết quả kinh doanh từ cho vay ký quỹ cũng rất lớn. Tuy nhiên, rủi ro đối với hoạt động cho vay cũng tương đối lớn bởi nhiều công ty chứng khoán đẩy mạnh cho vay và quản lý lỏng lẻo đã gặp rủi ro nợ xấu và thua lỗ rất lớn trong các năm 2010-2014. Do đó, chúng ta cần tìm hiểu, thu thập các thông tin ngoài lề về hoạt động cho vay, danh mục cho vay, phương thức QTRR mà công ty chứng khoán đó đang làm

– Các công ty chứng khoán có tài khoản HTM lớn thường đi kèm với nợ vay rất lớn để phục vụ cho kinh doanh nguồn vốn, đây là các khoản gửi rất an toàn. Do đó không hẳn những công ty chứng khoán này có nợ vay cao hơn vốn chủ sở hữu nhiều mà có rủi ro cao hơn các công ty khác.

– Rủi ro lớn nhất đối với một công ty chứng khoán thường là rủi ro đến từ danh mục tự doanh lớn (FVTPL và AFS) nên khi đầu tư chúng ta luôn phải lưu ý theo sát các cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tự doanh của họ để tránh các rủi ro cổ phiếu giảm mạnh gây thua lỗ cho công ty chứng khoán

– Các công ty chứng khoán có mảng ngân hàng đầu tư mạnh thường sẽ có mảng thu xếp vốn hiệu quả và khách hàng tổ chức phát triển hơn.

Thứ ba đánh giá dòng tiền của công ty chứng khoán rất khác với các loại hình kinh doanh khác

– Đối với 1 doanh nghiệp phi tài chính thì dòng tiền ra và vào của công ty vô cùng quan trọng, còn đối với các công ty chứng khoán dòng tiền không có nhiều ý nghĩa so với chất lượng tài sản trong bảng cân đối kế toán và hiệu quả kinh doanh bền vững của từng mảng trong bảng báo cáo kết quả kinh doanh

– Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư thường rất nhỏ và có thể bỏ qua ngay do: 1.Công ty chứng khoán đầu tư rất ít vào tài sản cố định; 2. Nếu có đầu tư tài chính lớn thì với công ty chứng khoán đó thuộc hoạt động kinh doanh chứ không phải hoạt động đầu tư.

– Lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán âm nhiều năm liên tiếp không hẳn là xấu thậm chí còn rất tốt: ngoài việc phụ thuộc lãi lỗ kinh doanh thì vấn đề quan trọng nhất là nó phụ thuộc vào việc mở rộng kinh doanh của công ty. Nếu 1 công ty chứng khoản mở rộng đầu tư vào các tài sản tài chính thì dòng tiền kinh doanh luôn âm.

– Lưu chuyển hoạt động tài chính dương nhiều chưa chắc đã xấu thậm chí còn tốt nếu việc dương là do hoạt động kinh doanh mở rộng mạnh (ở Việt Nam các công ty chứng khoán lớn đều mở rộng không ngừng hàng năm)

– Tiền và tương đương tiền của các công ty chứng khoán không quan trọng bằng các tài sản tài chính của công ty chất lượng có tốt không, vì khác với các loại hình khác các tài sản tài chính rất dễ chuyển đổi thành tiền nếu có chất lượng tốt với chí phí chuyển đổi rất thấp. Do đó các công ty chứng khoán hiệu quả thường không dự trữ tiền mặt nhiều như các ngành khác.

Phương pháp định giá thường dùng với ngành chứng khoán

Do đặc thù là ngành có tính chất chu kỳ và phụ thuộc vào sự biến động của thị trường chứng khoán rất cao, ngoài ra đây là ngành tài chính (một ngành kinh doanh tiền). Chính vì thế người ta thường định giá theo phương pháp kết hợp giữa P/B và P/E

– Dùng P/E để định giá mảng kinh doanh môi giới, ngân hàng đầu tư

– Dùng P/B định giá cho mảng kinh doanh nguồn vốn, tự doanh, cho vay ký quỹ


- FVTPL: ghi nhận theo giá thị trường và được hạch toán là lợi nhuận đầu tư trong báo cáo KQKD.

- AFS: ghi nhận theo giá thị trường và hạch toán vào vốn chủ sở hữu trong khoản mục “ chênh lệch đánh giá lại tài sản theo giá trị hợp lý”.

Như vậy, các TSTC trong AFS nếu chưa chốt lời thì không hề đóng góp vào doanh thu trong quý đó, tuy nhiên nó lại là một khoản lợi nhuận tiềm tàng nếu doanh nghiệp có chủ ý chuyển các khoản đầu tư từ AFS sang FVTPL và ngược lại để điều tiết lợi nhuận. Với sự khác biệt này, việc xem xét mức độ hiệu quả từ tự doanh của 1 công ty không thể chỉ xem xét qua đóng góp vào doanh thu trên bảng kết quả kinh doanh mỗi quý mà cần phải xem xét cả các tài sản chưa chốt lời tồn tại ở danh mục AFS.


Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2022

Ngành Điện Notes

Trong quý 3, giá nhiệt điện (điện khí và điện than) sẽ giảm do lượng nước trong các hồ thủy điện ở mức cao. Đến quý 4, các hồ thủy điện cần tích trữ nước để chuẩn bị cho mùa khô năm kế tiếp, đẩy nguồn phát chủ yếu vào khối khí và khối than, qua đó đẩy giá nhiệt điện thị trường lên cao hơn.

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

Ngành thép Notes

  " Loại chi phí lớn nhất để sản xuất một tấn phôi thép là: quặng sắt (36%), than cốc (25%), khấu hao (14%), điện (6%), nhân công (4%), vận chuyển quặng sắt và than cốc lần lượt là 3% và 2%" con số tham khảo nhé

Giá quặng sắt trong 2023 và 2024 dự báo đạt 90 và 70 USD/Tấn (DISR) với kỳ vọng hồi phục nguồn cung xuất khẩu tại Úc và hồi phục sản xuất tại Trung Quốc. Giá than cốc được dự báo giảm tương tự xuống 200 USD/Tấn tới năm 2023 và 140 USD/Tấn vào 2024

Về mặt thị phần: HSG và NKG duy trì tỷ trọng sản lượng xuất khẩu > 50% tổng tiêu thụ. Trong khi đó, HPG tiếp tục gia tăng thị phần của mình với việc củng cố sản vị thế tại thị trường nội địa

 Thị trường xây dựng BĐS (chiếm 60% nhu cầu thép) 


Chuỗi giá trị sản xuất: Quặng sắt, than cốc → cho vào lò luyện → thép HRC → quá trình cuộn, cán nóng,… → thép thanh, thép cuôn, tôn mạ,...

Các dn ngành thép trong chuỗi giá trị này:

HPG (dn sản xuất): Tham gia quy trình từ A đến Z

NKG, HSG (dn thương mại): mua thép HRC về, rồi sau đó tạo ra thép thành phẩm

Vì thế giá cp thép liên quan mật thiết đến thép HRC và nguyên liệu đầu vào như quặng sắt và than cốc.

Nguyên nhân thép HRC giảm không phanh năm 2022 (tui tóm tắt ngắn gọn nhất có thể).
Thứ nhất, BĐS Trung Quốc và Việt Nam đổ đèo do chính phủ thực hiện các chính sách bóp nghẹt BĐS.
Thứ hai, môi trường lãi suất cao của Mỹ và EU => Cầu thép suy giảm

Nguyên nhân thép HRC tạo đáy và đi lên
Thứ nhất, TQ và VN đang thực hiện nhiều chính sách để khôi phục lại bđs, khơi thông nguồn vốn
Thứ hai, dự báo lãi suất ở Mỹ sẽ giảm cùng với sự phục hồi kinh tế (hạ cánh mềm) => Kích cầu thép
Thứ ba, Chính phủ VN nỗ lực giải ngân đầu tư công, trong đó thép chiếm 30% nguyên vật liệu đầu tư công (trong đó HPG và HSG chủ yếu tiêu thụ nội địa, còn NKG chủ yếu xuất khẩu sang EU).


Tóm tắt sách Nhà đầu tư 1970

 “Chứng khoán là nghề khó nhất, nhưng vinh quang nhất vì nó tổng hợp đủ các thể loại kiến thức từ kinh tế - chính trị, đến vĩ mô, vi mô, phân tích ngành nghề, phân tích doanh nghiệp, dự đoán tương lai của những thứ đó, nếu ai đoán đúng ăn đậm, thế nên số người chiến thắng là rất ít, ông nào không theo nổi tốt nhất nghỉ chơi, lo làm việc chuyên môn nuôi vợ con, ác ở chỗ lòng tham con người ai cũng có, mà ông nào cũng nghĩ mình giỏi hơn thiên hạ nên không bỏ được.”

“Chứng khoán sinh ra trong hoảng loạn sợ hãi, lớn lên trong nghi ngờ và chết bởi sự thỏa mãn”.

“Một tin nhưng phải định lượng tin đó tốt hay xấu, chứ không phải tin ra đọc báo thấy bọn nó chém phá sản là sợ, nó tốt cho ai và xấu cho ai, biết nó tốt cho thằng nào thì nương theo thằng đó mà kiếm tiền. Lúc nào cơ hội cũng có, nhưng nó chỉ dành cho những người lạc quan và có cái đầu sáng suốt.”

“Hãy nhớ những siêu cổ phiếu tăng vốn theo cấp số nhân nhưng EPS vẫn theo kịp nó là máy in tiền dành cho bạn.”

“Đừng bao giờ nghĩ rằng kẻ sẽ mua lại cổ phiếu của mình là ngu ngốc, bởi chính họ sẽ là người định giá cổ phiếu của mình trong tương lai. Nếu bạn mua giấy lộn mà nghĩ sẽ có thằng ngu mua của bạn giá cao, bạn sẽ đổ được bô vào đầu kẻ khác thì chính bạn sẽ là kẻ phải chết bởi thằng khác sẽ đổ bô vào đầu bạn trước tiên”.

09 Điều cần ghi nhớ

#1 Không mua cổ phiếu ngành nghề khủng hoảng, thừa, ế ẩm, giảm giá, bán chịu nợ.

#2 Không mua công ty vô chủ, giá cổ phiếu ở đáy đại dương rẻ như bùn mà hội đồng quản trị cứ bán như phá mả.

#3 Không mua cổ phiếu mà HĐQT không tập trung làm ăn, chỉ lướt sóng cổ phiếu hàng ngày.

#4 Không đầu tư công ty mà HĐQT bất tín, toàn bơm tin đểu.

#5 Không mua những cổ phiếu siêu thanh khoản, mua bao nhiêu cũng có, vì hàng tốt, hàng chất không ai sút như phá mả. Cổ chất phải cô đặc, nhiều cổ đông ôm dài hạn, nó quý hiếm mơi có thể tăng bằng lần, tăng không thấy đỉnh.

# 6 Không xác định mua giấy lộn để sút vào đầu kẻ đến sau, chỉ bán cho người đến sau những cổ phiếu chất lượng, họ mua sau vẫn có lời lớn.

#7 Không mua những cổ phiếu tăng bằng dòng tiền đầu cơ đánh bạc, bởi chúng sẽ về máng lợn rất nhanh, kẻ đến sau phải thua đau đớn. Chỉ mua cổ phiếu tăng bằng niềm tin và sự kỳ vọng của các cổ đông. Bởi niềm tin là sức mạnh gấp 100 lần tiền.

#8 Không bao giờ nói xấu cổ phiếu của mình khi đã PR, đã bán đi, luôn chúc cho người đến sau thịnh vượng, đó là uy tín trong kinh doanh.

#9 Không mua giấy lộn, chỉ gom tài sản có giá trị bị định giá thấp.

“Đỉnh cao trong phân tích tài chính là đọc BCTC phải hiểu được ý thằng viết muốn gì?” - Ẩn ý của lãnh đạo, ý chí lãnh đạo họ muốn gì?”

# Tốt phi logic (Xả hàng…)

# Xấu phi logic (Gom hàng…)


10 Dấu hiệu doanh nghiệp “làm xiếc” với BCTC

#1 Lợi nhuận đánh bại thị trường

#2 Lợi nhuận ấn tượng nhưng không được đối thủ cùng ngành vị nể.

#3 Lợi nhuận nhảy vọt so với cùng kỳ.

#4 Lợi nhuận ấn tượng công bố trước các đợt phát hành tham vọng.

#5 Lợi nhuận được tạo ra từ các giao dịch đáng ngờ.

#6 Các con số lợi nhuận thay đổi chóng mặt.

#7 Lợi nhuận gắn với các đợt thanh lý tài sản khả nghi. Các đợt thanh lý tài sản lớn có thể là biện pháp cứu vãn kết quả kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp. Đặc biệt nếu việc thanh lý diễn ra sát thời điểm kết thúc chu kỳ kế toán, thì gần như chắc chắn doanh nghiệp có ý đồ.

#8 Lợi nhuận cao đột biến rơi vào quý I và quý III. BCTC Q1 và Q3 không yêu cầu soát xét, nên các “bùa chú” kế toán nhiều khả năng được doanh nghiệp đem ra áp dụng nhiều nhất.

#9 Thay đổi kế toán trưởng liên tục.

#10 Doanh nghiệp có thể “múa may” lợi nhuận bằng cách thay đổi chính sách bán hàng, cho phép người mua trả chậm để tăng doanh thu. Một kỹ thuật khác là thay đổi các ước kế toán ghi nhận giá trị các hợp đồng tương lai về thời điểm hiện tại.


07 dấu hiệu nhận diện cổ phiếu “rởm”

#1 Chủ doanh nghiệp hay doanh nghiệp không được giới trong ngành đánh giá cao.

#2 Chủ doanh nghiệp quá chú ý đến các hoạt động giao dịch cổ phiếu.

#3 Các cổ đông lớn, tổ chức đồng loạt bán ra cổ phiếu và chấp nhận lỗ lớn.

#4 Tổ chức tư vấn “bỏ chạy” (giảm tỷ lệ sở hữu)

#5 Chủ doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có dính tới vi phạm pháp luật

#6 Doanh nghiệp đạt tăng trường lợi nhuận bất thường

#7 Đà tăng doanh thu không theo kịp đà tăng các khoản phải thu

Còn rất nhiều tín hiệu khác như: # Dòng tiền âm, # Vi phạm trong công bố thông tin...


08 Điểm yếu của các “thánh chém”

#1 Thiếu tầm nhìn chiến lược

#2 Nghe báo đài nồi chõ mà thiếu tư duy phân tích độc lập

#3 Đất tăng nhiều là tăng ảo?

#4 Vì sao nói BĐS hiện nay cơ hội lớn. Không ảo, còn tăng dài?

#5 Định lượng doanh nghiệp kém, bị đám đông chi phối.

#6 Chỉ nhìn được hiện tại

#7 Bong bón là chết chóc?

#8 Tính P/E cổ đất như cổ sản xuất và chê đắt, bỏ lỡ cơ hội.


05 yếu tố khiến bạn không đủ tầm và tư duy để thắng trận lớn

#1 Quá cầu toàn và đòi hỏi sự rõ ràng, không dám là kẻ đi trước.

#2 Tin đồn, tin ảo, xử lý chuẩn nó chính là kim cương.

#3 Bị cám dỗ bởi tiếng gọi bầy đàn

#4 Đừng mua thứ gì thật quá, bạn sẽ luôn là kẻ thất bại, hãy chú ý đến tương lai nhiều hơn.

#5 Không biết chọn những cổ phiếu có kỳ vọng cao.

“Những gì trong quá khứ sẽ lặp lại ở tương lai bởi lòng tham con người là không thay đổi”

“Tất cả đều được quyết định = XU HƯỚNG DÒNG TIỀN” – Tiền chảy vào đầu là THIÊN THỜI sáng ở đó.


06 Sai lầm khi tham gia thị trường

#1 Lòng tham (Lòng tham sẽ biến bạn mù quáng và lao vào chỗ chết)

#2 Sự sợ hãi (Sự sợ hãi luôn khiến các cơ hội rời xa tầm tay bạn)

#3 Thiếu tư duy độc lập (Muốn giàu xin đừng tham khảo số đông đại diện cho tầng lớp nghèo)

#4 Quên mất mục tiêu của mình khi đầu tư là gì. (Mua vì cái gì, bán vì cái đấy”

#5 FOMO

#6 Hiểu sai về giá trị (Giá trị của doanh nghiệp nằm ở ban lãnh đạo và tài sản, không phải lợi nhuận. Lợi nhuận là thứ có thể “xào nấu” được, tài sản thì phải tíc lũy. Tài sản có thể hiểu là lợi thế công nghệ, quyền áp đặt giá, trí tuệ, thương hiệu…)


06 Dấu hiệu về máng lợn của một cổ phiếu

#1 Giai đoạn giá cao, tay to ôm nhiều nên cô đặc, thanh khoản vừa phải

#2 Khi tay to phân phối, chạy hết còn nhỏ lẻ lướt sóng, thanh khoản bùng nổ, giá giảm mạnh, thường có sóng hồi.

#3 Cổ phiếu trở thành hàng đầu cơ siêu thanh khoản, do quá nhiều thằng kẹp hô hào PR, lướt sóng bằng TA nhao vào bắt đáy nên nhiều sóng Bull.

#4 Tin xấu bung ra, cổ cứ tèo dần theo năm tháng

#5 Các công ty chứng khoán cắt hết margin, cổ tiếp tục giảm sâu.

#6 Hủy niêm yết, giấy lộn hiện nguyên hình.


03 Kỹ năng cần có trong chứng khoán

#1 Đánh chụm

#2 Định lương hành trình = nhìn xa

#3 Kiên trì nhẫn nại


08 nhóm nghề khó tăng trưởng

#1 Nghề doanh thu bị đóng khung

#2 Nghề cần nhiều thiết bị “vũ khí” mới

#3 Nghề cạnh tranh bán chịu nợ, dòng tiền yếu

#4 Nghề khủng hoảng thừa mứa, giá sản phẩm giảm sâu

#5 Nghề giá sản phẩm không tăng được

#6 Nghề sản phẩm khó mang đi xa

#7 Nghề mùa vụ

#8 Nghề dùng quá nhiều vốn để tạo doanh thu, lợi nhuận.


04 nhóm nghề dễ tăng trưởng

#1 Nhóm vòng đời sản phẩm cực ngắn như thực phẩm đồ uống.

#2 Nhóm công nghệ cao dễ sinh đại gia

#3 Nhóm tay không bắt giặc (BĐS, Bán lẻ)

#4 Nhóm giá sản phẩm có thể tăng nhiều lần do khan hiếm. (BĐS)

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2022

Ngành Ngân Hàng Notes

Tìm hiểu của Báo Đầu tư Chứng khoán cho thấy, trước đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bán ngoại tệ tương lai thông qua hợp đồng kỳ hạn cho các tổ chức tín dụng (TCTD) để ổn định tỷ giá, giúp các ngân hàng có trạng thái ngoại tệ âm giải quyết nhu cầu ngắn hạn. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, các ngân hàng đều mua ngoại tệ. Theo ông, động thái này tác động đến câu chuyện lãi suất, thanh khoản của hệ thống như thế nào?


Khi tỷ giá biến động mạnh, hầu hết ngân hàng thương mại đều chuyển sang trạng thái mua vào ngoại tệ, thay vì bán ra như giai đoạn bình ổn. Điều này tạo ra một hiệu ứng dây chuyền lên thanh khoản hệ thống.


Bởi lẽ, để mua USD, ngân hàng phải sử dụng VND. Khi toàn hệ thống đồng loạt tăng mua, lượng VND chảy ngược về NHNN và ra khỏi lưu thông nội bộ, khiến thanh khoản VND bị co lại nhanh chóng. Đây là nguyên nhân trực tiếp khiến thị trường liên ngân hàng chứng kiến mặt bằng lãi suất nhích lên, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn.


Hệ quả thứ hai là chi phí vốn của hệ thống ngân hàng tăng lên. Khi thiếu hụt VND, các ngân hàng buộc phải tăng vay lẫn nhau để bù đắp và vì thế, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng được đẩy lên theo cơ chế thị trường.


Nếu tình trạng này kéo dài, việc thiếu hụt VND sẽ lan sang thị trường 1 (khu vực doanh nghiệp và dân cư), buộc các ngân hàng phải nâng lãi suất huy động để thu hút dòng tiền quay trở lại. Khi lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay tất yếu chịu tác động. Đây là vòng truyền dẫn điển hình từ căng thẳng ngoại tệ sang mặt bằng lãi suất nội tệ.

Cũng cần lưu ý rằng, khi các ngân hàng liên tục mua vào ngoại tệ, thị trường hình thành kỳ vọng rằng, tỷ giá vẫn còn áp lực tăng. Tâm lý này khiến doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ hoặc có kế hoạch bán ngoại tệ tạm thời “găm” lại, làm nguồn cung ngoại tệ tự nhiên trên thị trường càng mỏng hơn.


Điều này buộc NHNN phải duy trì mức độ can thiệp lớn hơn thông qua kênh bán ngoại tệ kỳ hạn hoặc bán giao ngay, đồng nghĩa với việc lượng VND bị hút thêm. Do đó, không chỉ thanh khoản VND bị co lại, mà áp lực lãi suất còn có xu hướng lan rộng nếu thị trường không sớm trở lại trạng thái cân bằng cung - cầu ngoại tệ.


Ông đánh giá thế nào về mối tương quan giữa chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng với xu thế mặt bằng lãi suất trên thị trường hiện nay?


Nếu xét riêng yếu tố nợ xấu, có thể thấy, đây cũng là một trong những nguyên nhân mang tính cấu trúc khiến mặt bằng lãi suất không những khó giảm, mà còn có xu hướng nhích lên trong thời gian qua.


Thứ nhất, khi nợ xấu tăng, ngân hàng buộc phải trích lập dự phòng rủi ro ở mức cao hơn để đảm bảo an toàn hệ thống. Dự phòng thực chất là chi phí trực tiếp làm giảm lợi nhuận, thu hẹp nguồn vốn tự có và khiến chi phí vốn bình quân của ngân hàng tăng lên.


Khi chi phí vốn đầu vào bị đội lên, ngân hàng khó có thể hạ lãi suất cho vay, thậm chí phải điều chỉnh tăng để bù đắp phần rủi ro phát sinh từ danh mục tín dụng kém chất lượng.


Thứ hai, nợ xấu tăng khiến ngân hàng buộc phải tái định giá rủi ro đối với mọi khoản tín dụng mới. Điều này thể hiện rõ ở việc họ nâng chi phí dự phòng rủi ro trong lãi suất cho vay. Khi chất lượng tài sản suy giảm, ngân hàng không thể cho vay ồ ạt như trước, mà phải giảm khẩu vị rủi ro, siết điều kiện tín dụng và chỉ ưu tiên khách hàng tốt.


Hệ quả là lãi suất cho vay đối với các phân khúc còn được tiếp cận vốn sẽ cao hơn nhằm bù đắp tỷ lệ tổn thất kỳ vọng (expected loss) trong bối cảnh nợ xấu vẫn ở mức cao. Đây chính là nguyên nhân khiến chi phí vay vốn của nền kinh tế tăng lên, kể cả khi nhu cầu vốn không quá lớn.


Thứ ba, nợ xấu làm giảm đáng kể khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Khi một khoản nợ trở thành nợ xấu, dòng vốn tương ứng bị “giam” lại, không thể quay vòng để bổ sung thanh khoản cho các nhu cầu tín dụng mới.


Điều này tạo ra áp lực thiếu hụt vốn cục bộ trong hệ thống, đặc biệt tại các ngân hàng có mức độ tập trung tín dụng cao vào lĩnh vực bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp. Khi cung tín dụng bị thu hẹp, mà cầu tín dụng của doanh nghiệp vẫn duy trì, lãi suất tất yếu tăng theo cơ chế thị trường.


Nói cách khác, nợ xấu không chỉ khiến chi phí vốn tăng lên, mà còn làm suy giảm khả năng bơm vốn của hệ thống - từ đó tạo áp lực kép lên mặt bằng lãi suất.

 *********************


Mô hình CAMELS là mô hình tốt nhất để phân tích Lợi Nhuận ngành ngân hàng

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022

CASE STUDY ĐỌC BÁO CÁO TÀI CHÍNH

 1.  Năm 2015 PNJ báo lợi nhuận sau thuế là 156 tỉ , thấp hơn 2014 là 256 tỉ, nhưng PNJ bắt đầu 1 sóng tăng lớn từ đây. Nhiều người không biết thấy LN thấp mà bỏ qua thì sẽ bỏ lỡ mất con sóng này, lý do là nhìn báo cáo kết quả kinh doanh không ra, nhưng nhìn vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ta thấy có 1 khoản trích lập dự phòng lớn là 200 tỉ, dòng tiền 2015 dương so với 2014 âm, nhìn vào đây ta thấy thực sự 2015 làm ăn vẫn có lãi lớn so với 2014 chỉ là lãi được cắt bớt đi vào trích lập dự phòng, đó là lý do giá cổ phiếu vẫn tăng mạnh dù LNST thuế giảm

Chúng ta có thể phát hiện ra điều này bằng cách nhìn qua lưu chuyển tiền tệ, năm 2015 có dòng tiền dương so với 2014. dù LN thấp hơn


2. Case FRT 2021

FRT bắt đầu sóng tăng từ 07.2021 dù lợi nhuận sau thấp rất thấp. Rất nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp bỏ qua mã này vì chỉ nhìn vào Lợi nhuận của nó, nhưng FRT tăng mạnh, nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy, giai đoạn LN thấp, là do nó đang chịu lỗ cho mảng nhà thuốc Long Châu đang mở rộng, chứ mảng máy tính vẫn đang có lãi lớn

Vậy khi chuỗi Long châu mở xong, và có lợi nhuận, thì 2 mảng máy tính và Dược đều đem về LN lớn, là lý do khiên giá FRT tăng mạnh

Nếu chỉ nhìn vào LNST ta sẽ không biết được, mà phải đọc kỹ thuyết minh cho phần LN đó


3. Case HPG 2020


4. Case KBC 06.2022



Thứ Tư, 13 tháng 7, 2022

VN-INDEX NOTES

 1. Giá trị P/E trung bình 10 năm của VNI là 14-15. Đỉnh cao 2007 P/E là 43 lần, Đỉnh P/E 2018 là 23 lần, đỉnh 1500 năm 2021 P/E khoảng 20 lần

2. Giá trị P/E thấp nhất là 9 năm 2011, còn lại P/E ít khi xuống dưới 10, kể cả đợt bán tháo vì Covid 2020 về 650. Vì vậy khi P/E về 11-12 có thể xem xét đầu tư dài hạn rất ổn. TTCKVN trong lịch sử 23 năm hoạt động chi có 3 lần VN-Index định giá dưới 10. 

1 là vào cú sụp đổ 1.173 về 235 vào tháng 3/2009

2 là vào ngày 31/3/2020 Cú sụp đổ 31.5% do đại dịch Corona 

3 là cú sụp đổ vừa qua VN-Index về 1000 điểm. 



Thứ Ba, 12 tháng 7, 2022

Những con sóng lớn hàng năm

 Những con sóng cần nhớ vì vài năm nó sẽ lặp lại, khi có sóng thì giá cổ phiếu sẽ tăng rất là mạnh

1. Sóng ngân hàng 2020.2021

Khi Covid ập đến làm thay đổi tình hình kinh tế, chính phủ tiến hành giảm lãi suất huy động. Khi lãi suất tiền gửi giảm, lãi suất cho vay không giảm, làm NIM tăng lên dẫn đến lợi nhuận ngân hàng tăng, sóng ngân hàng nổi lên. Con sóng này khá dài, đưa VNI vượt 1k2

2. Sóng chứng khoán 2020.2021

2020.2021 Do covid gây bí bách kênh đầu tư, công với việc hạ lãi suất, giá trị giao dịch chứng khoán tăng lên gấp 3 (từ 8k tỉ lên 21k tỉ 1 phiêu) dòng tiền và thanh khoản giao dịch tăng liên tục, các công ti chứng khoán sẽ được lợi từ phí giao dịch và tự doanh, Sóng chứng khoán nổi lên, giá CP khi có sóng tăng 3 lần trong 3 tháng. VND tăng 10 lần trong 1 năm gì đó. VND và MBS tăng mạnh nhất do họ có tỉ lệ khách hàng cá nhân cao, khiến tỉ lệ lợi nhuận lớn, do lợi nhuận từ cá nhân cao hơn lợi nhuận từ tổ chức

3. Khi chính phủ tiến hành giải ngân đầu tư công với số tiền lớn để kích thích kinh tế sau covid, chủ yếu là xây dựng Hạ tầng, các mã Bất động sản sẽ nổi sóng, các mã XD được hưởng lây,

4. Sóng phân bón, hóa chất 2021

Khi Trung Quốc có động thái cắt giảm xuất khẩu phân bón do trong nước thiếu hụt, Phân bón và hóa chất trong nước bớt phải cạnh tranh với hàng tàu, lại có lợi xuất khẩu. Giá phân tăng cao, Cổ phiếu hóa chất và phân bón tăng mạnh trong 1 quý điển hình là sóng phân bón quý 3.2021. Tương tự với giá than, khi trung quốc cắt giảm than, dù hơi ảo. Có thể check bằng giá phân bón tăng lên, cti phân có lợi nhuận cao lên hẳn VD như DPM, lợi nhuận quý 1 cao hơn hẳn nhưng giá cp chưa tăng, đến quý 2 LN tăng tiếp giá CP mới chạy

Có thể check kỹ thuật bằng dòng tiền tăng lên, giá tăng lên từ từ

Thời của phân ure năm 2021-2022 khi giá khí châu Âu tăng hàng chục lần, các nhà máy ure châu Âu đóng cửa hàng loạt do đầu vào tăng hàng chục lần, nhưng giá bán ra tăng một vài lần vẫn lỗ nặng, trong khi DCM đầu vào lại tính theo giá dầu giá có tăng nhưng tăng cỡ 2 lần đổ lại, giá bán ra lại tăng cao hơn so với đầu vào, nên gặp thiên thời lợi nhuận tích lũy khủng từ đó giá cổ tăng nhiều lần và giữ nền giá cao do tích lũy lợi nhuận khủng khi gặp thiên thời.

Lúc đó dòng phân phosphat cũng tăng nhưng không mạnh, trong khi đầu vào lại tăng mạnh, nên dù lợi nhuận tăng mạnh nhưng so với phân ure không nhiều. Giá cổ cũng phản ánh, tích lũy lợi nhuận không cao, nên khi gặp khó năm 2023 lợi nhuận giảm sâu, giá cổ cũng giảm rất sâu, khác với DCM/DPM giá cổ giảm nhưng không nhiều, tạo nền vững mặt bằng giá cao.

Hiện tại đó là thiên thời dòng phân Phosphat như đã phân tích, trong khi cả DDV và LAS đều giải quyết được key lớn quyết định của họ (DDV là quặng, là bãi thải, và thu hồi được P205), LAS là quặng 2 (đã xử lý đc quặng 2) cộng thêm yếu tố thiên thời, địa lợi khác như luật Vat có hiệu lực 1/7 + xử lý nghiêm hàng giả (riêng một cơ sở phân bón giả ở Hòa Bình thu giữ tới 250 nghìn tấn phân bón giả, hơn 40 nghìn tấn nguyên liệu làm phân bón giả, lượng phân giả ngang với sản lượng DDV gần một năm, ngang với sản lượng bán ra một quý của LAS, để thấy vấn nạn hàng giả khiếp thế nào), xử lý nghiêm thì các công ty phân bón sản xuất trong nước đương nhiên tăng doanh thu, thị phần.

5. Sóng ngành vận tải biển 2020.2021

Hậu covid, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, điển hình là chuỗi vận tải biển, giá cước vận tải biển container tăng vọt, CP ngành vận tải biển hưởng lợi ngay do giá cước tăng cao. Công ti cảng biển, không có tàu biển giá cp cũng tăng luôn do được hưởng lợi ké :)). Điển hình là HAH 2021, lợi nhuận bùng nổ, giá cp cứ tăng từ từ trong 3 quý

6. Sóng thép 2021.2021

Do covid làm giá thép thế giới tăng cao và trung quốc hạn chế hoạt động nhà máy thép vì mội trường, khiến doanh nghiệp xuất khẩu thép có lợi nhuận rất cao trong hơn 4 quý, giá cổ phiếu tăng từ 5-10 lần

7. Khi Nga đánh Ukraina, Giá Lúa mì thế giới tăng vọt, ngoài ra giá phân đạm và thép cũng tăng nhanh, do 2 nước này xuất khẩu nhiều những thứ này, nó làm giá cổ phiếu phân đạm+thép trong nước tăng mạnh, cái này có thể lưu ý đánh đầu cơ tốt, tương tự với cổ phiếu dầu khí vì Nga xuất khẩu dầu lớn

Nga bị cấm vận làm giá dầu + phân bón thế giới tăng, làm giá cổ phiếu dầu và phân trong nước tăng theo, có thể đánh đầu cơ được

2023 có BSI FTS

2024 có VTP VGI MCH

2025 có VIC GEE

2025 Sóng cổ phiếu hưởng lợi nhờ chu kỳ đầu tư công bùng nổ với ngành Vật Liệu Xây dựng : NNC, DHC, PDB, VVS...


***

Nếu ai còn nhớ hay không nhớ thì xem lại post của BY sẽ thấy chẳng có gì tăng mãi hay giảm mãi trên TT ,

- 2023 : Vnindex +12% trong đó đa phần mid , pen tăng mạnh từ đáy downtren , VIN và Trụ thảm .

- 2024 : Vnindex + 12% trong đó : một số bank , hóa chất , công nghệ viễn thông , các cp cơ bản có vốn nhà nước tăng mạnh .Vin , chứng , thép , BĐS , ĐTC ...tèo .

- 2025 : Vnindex +41% nhưng đa số Mid , pen và hàng cơ bản tèo . Còn VN30 trong đó có hst nhà các ac tỷ phú Vin , Gelex , VJC lên ngôi cùng một số bank , chứng . Đặc biệt nhất là VI.C , VH.M phi quá mạnh cũng như vốn hóa chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu VNindex đã làm điểm số VNI tăng mạnh thêm 41% nhưng riêng VI.C VH.M đã chiếm gần 2/3 điểm số tăng thêm nhưng âu cũng là sự đền đáp cho cổ đông Vin khi cắm mỏ suốt 5 năm không tham gia vào các con sóng phục hồi của TT .

Thị trường chứng khoán nếu loại trừ nhóm Vingroup ra đang ở mặt bằng giá khoảng 1.430 điểm, tương ứng chỉ tăng khoảng 12% trong năm 2025.


2021 CK

2022 BĐS

2023 CK

2024 CÔNG NGHỆ

2025 VIN, GELEX

2026  X3 X 5 Là dòng nào a em

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

4 CHỈ SỐ TEST NHANH SỨC KHỎE NGÂN HÀNG

Muốn đánh giá chất lượng ngân hàng ta phải khảo sát 4 nhóm chỉ số gồm: Hiệu quả kinh doanh, chất lượng nguồn vốn, chất lượng cho vay, an toàn vốn ngân hàng. Vì bài viết có giới hạn nên hôm nay chỉ xin chia sẻ chi tiết 4 chỉ số cơ bản nhất đại diện cho từng nhóm chỉ số trên để đánh test nhanh sức khoẻ của ngân hàng:

1. NIM - Nhóm hiệu quả kinh doanh

NIM là tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net Interest Margin), cũng là sự chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi. Mục đích sử dụng NIM là để đánh giá mức độ hiệu quả của các tài sản sinh lời mà doanh nghiệp đầu tư vào, đồng thời thể hiện khả năng kiểm soát chi phí từ lãi mà doanh nghiệp phải trả cho các chủ nợ. Tại sao lại vậy ? Vì:

NIM = (Thu nhập lãi - chi phí lãi)/tài sản sinh lời

Trong đó tài sản sinh lời là các khoản Tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước (II), Tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng (III), Chứng khoán kinh doanh (IV), Cho vay khách hàng (VI), Chứng khoán đầu tư (VIII) trong phần Tài sản của Bảng cân đối kế toán. Các khoản tài sản này sẽ sinh ra Thu nhập từ lãi sau đó đem điều chỉnh với chi phí lãi sẽ còn lại thu nhập lãi thuần . Nếu doanh nghiệp phân bổ tài sản sinh lời hợp lý, hiệu quả thì lãi thuần sẽ cao, lãi thuần càng cao thì LNST cũng càng cao (Điều mà bất cứ nhà đầu tư nào cũng mong muốn). Ngược lại, giả sử ngân hàng A năm 202x có những khoản cho vay khó đòi (nợ xấu cao), chứng khoán đầu tư cũng lỗ nặng, điều này sẽ làm thu nhập từ lãi giảm kéo theo NIM giảm, cuối cùng là LNST giảm. Như vậy nếu quan sát thấy NIM giảm qua các năm thì đó có thể là dấu hiệu cho thấy hiệu quả phân bổ tài sản sinh lời của ngân hàng gặp vấn đề. NIM càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản sinh lời của ngân hàng càng tốt. VD (Hình 1): Năm 2017 - 2021, NIM của TCB cải thiện rõ rệt, LNST của TCB cũng theo đó mà tăng mạnh.

2. CASA - Nhóm chất lượng nguồn vốn:

CASA (Current account savings account) là tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn. Vốn ngân hàng chủ yếu đến từ tiền gửi nhưng tuỳ loại tiền gửi sẽ có chi phí khác nhau ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Vì vậy muốn biết chất lượng vốn có tốt hay không thì phải biết tiền ngân hàng phân bổ chủ yếu ở khoản nào trong tổng tiền gửi. Đó là lúc ta cần xem xét chỉ số CASA. Vì:

CASA = (Tiền gửi không kỳ hạn + ký quỹ)/(Tổng tiền gửi + Giấy tờ có giá)

Nên CASA cao chứng tỏ tiền của ngân hàng nằm chủ yếu ở các khoản tiền gửi không kỳ hạn và ký quỹ (các khoản tiền gửi có lãi rất thấp từ 0,0% - 0,3%). Nhờ đó mà ngân hàng nhận được tiền với chi phí thấp hơn giúp cho Biên lợi nhuận và NIM cao hơn, rủi ro cũng thấp hơn. CASA cao cũng chứng minh rằng doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh tốt hơn các ngân hàng khác khi có thể cho vay với lãi suất thấp hơn mà vẫn đảm bảo lượng tiền gửi cao. Nguyên nhân đến từ việc ngân hàng có nhiều sản phẩm, dịch vụ mới, ứng dụng công nghệ tốt. VD (Hình 2): Với ứng dụng công nghệ tài chính thuộc hàng tốt nhất, Techcombank luôn có tỷ lệ CASA hàng đầu trong các doanh nghiệp ngân hàng, theo sau là những cái tên quen thuộc như VCB, MBB, VPB. Như vậy muốn chọn được ngân hàng có lợi thế cạnh tranh, kiểm soát chi phí tốt và có dư địa tăng trưởng trong tương lai thì đầu tiên doanh nghiệp phải có CASA cao.

3. NPL - Nhóm chất lượng cho vay:

NPL là tỷ lệ nợ xấu cho biết khả năng kiểm soát nợ xấu (từ nợ nhóm 3 đến nhóm 5) của ngân hàng. Đầu tư ngành ngân hàng không thể nào không quan tâm đến nợ xấu của ngân hàng đó, vì nợ xấu tác động đến chi phí thứ quyết định trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng.

NPL = Nợ xấu / Tổng dư nợ

Nợ xấu càng cao, ngân hàng càng phải trích lập dự phòng càng nhiều gây kìm hãm hoạt động cho vay của ngân hàng. Khi không đòi được nợ, nguồn vốn của ngân hàng cũng thất thoát trong khi ngân hàng vẫn phải trả chi phí lãi từ các nguồn vốn khác gây ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận ngân hàng.

Tỷ lệ NPL gia tăng qua các năm là một dấu hiệu cảnh báo khả năng quản lý nợ xấu của ngân hàng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ có khả năng sụt giảm mạnh trong tương lai. Ngược lại, NPL duy trì ở mức thấp hoặc có xu hướng giảm, biên lợi nhuận của ngân hàng sẽ được cải thiện tích cực. (Hình 3: NPL của TCB giảm đáng kể từ năm 2013 - 2016 và 2018 - 2021 đã đóng góp cho sự tăng trưởng lợi nhuận từ thời điểm đó đến nay). Như vậy NPL sẽ giúp ta chọn được ngân hàng có khả năng quản lý nợ xấu tốt, tiềm năng tăng trưởng mạnh.

4. CAR - Nhóm an toàn vốn:

Cuối cùng, CAR (Capital adequacy ratio) là hệ số an toàn vốn - là tỷ lệ vốn tối thiểu để đảm bảo cho các khoản tiền của người gửi trước khi ngân hàng vỡ nợ. Như vậy tỷ lệ CAR càng cao càng thể hiện mức độ an toàn và uy tín ngân hàng. Ngân hàng uy tín thì sẽ huy động được nhiều nguồn tiền gửi với chi phí thấp, lợi thế cạnh tranh cao. Huy động được nguồn vốn lớn, ngân hàng sẽ có tiền để đầu tư vào các hoạt động sinh lãi giúp cải thiện lợi nhuận. Theo chuẩn mực Basel II (Khung đo lường rủi ro tín dụng) thì CAR tối thiểu là 8%. Tuy nhiên các ngân hàng đầu ngành như TCB, VPB luôn duy trì tỷ lệ CAR ở mức cao và tiền gửi từ khách hàng của 2 ngân hàng trên cũng rất đáng kể (Hình 4). Tóm lại để đánh giá mức độ lành mạnh tài chính của ngân hàng thì CAR là một lựa chọn tốt. (Hệ số CAR được trình bày trong các Báo cáo thông tin của các NHTM cổ phần hoặc có sẵn do được tập hợp trong một số công cụ tài chính như WiChart.)

Kết hợp 4 chỉ số trên với tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận, doanh thu, ROE là đã có thể tạo ra 1 bộ lọc nhanh những cổ phiếu ngân hàng tốt. Tuy nhiên để gia tăng mức độ hiệu quả trong quá trình phân tích em vẫn khuyến khích anh/chị tìm hiểu đầy đủ hơn về 4 nhóm chỉ số trên cũng như tỷ trọng nguồn vốn và mô hình hoạt động của các ngân hàng.