• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

PHÂN TÍCH CƠ BẢN

3 CHỈ SỐ NÊN NHÌN ĐẦU TIÊN, KHI SOI BÁO CÁO TÀI CHÍNH (BCTC) CỦA MỘT DOANH NGHIỆP!

Gần đây khi phân tích public một số cổ cánh, Ad có nhận được nhiều câu hỏi, comments đại loại như: "Ad ơi khi kiểm tra BCTC của công ty, em thấy nhiều quá nên đọc từ đâu ạ?" hay "Các chỉ số tài chính cái nào quan trọng hơn để xem xét?"...Tóm lại tút này lên sóng, để giải đáp phần nào thắc mắc của các hommies về vấn đề này.

Theo kinh nghiệm cá nhân Ad thì trước khi đi sâu về các phần như: Doanh thu, lợi nhuận, vay nợ, định giá...blable. Thị Ad sẽ check nhanh 3 ông Phúc Lộc Thọ theo thứ tự: ROE, ROA, ROIC này. Một doanh nghiệp Ad nghĩ không cần phải doanh thu lợi nhuận nghìn tỉ hay vốn chủ to đùng lấy thịt đè người...Mà một công ty tuyệt vời, nếu nôm na chỉ cần nhìn 3 chỉ số này lớn (tùy đặc thù ngành) + tăng trưởng liên tục là ổn áp. Vì nó thể hiện doanh nghiệp đấy đang mang lại giá trị cho cổ đông nắm giữ qua các quý, năm...

1. ROE (Return On Equity): Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đại khái là một chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ trong doanh nghiệp. Lợi nhuận ở đây lấy lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn góp cổ đông, lợi nhuận chưa chia, chênh lệch tài sản tăng giá, quỹ đen, quỹ đỏ...

ROE các bác check thường trên các BCTC hoặc các trang Tài chính - Chứng khoán...Nó cho thấy với 100 đồng vốn của doanh nghiệp thì sau 1 năm thu xèng về mấy đồng? Vài đồng hay vài chục thì là do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc thù ngành, thị trường...Một doanh nghiệp có chỉ số ROE ổn định nhiều năm ở mức cao, có thể xem như một dấu hiệu cho thấy vốn được sử dụng hiệu quả.

Như Ad nói bên trên về việc ROE cao hay thấp chỉ mang tính tương đối nên so với các công ty cùng ngành để thấy tương quan ví dụ: nếu xem HPG thì phải soi ROE của HSG, NKG, TLH...để đánh giá được việc sự dụng đồng vốn của nhà anh Long với mấy bác cùng ngành. Bên cạnh đó một số ngành đặc thù hay mang tính phòng thủ (điện nước...) thì ROE sẽ thấp hoặc cực thấp: POW Ad có chém mấy tuần trước là một ví dụ (ROE 2019 là 8.5), một số cổ phiếu ngành nước BWE, VSI, BDW...thì ROE cũng không hơn là bao thường <15. Ngược lại mấy ông mang tính chiến đấu cao: công nghệ thông tin, thương mại, bán lẻ...thì ROE năm tầm 2x, 3x là quá easy và nhớ theo dõi sự tăng trưởng hằng năm thêm nhé các hommies (y)

2. ROA (Return On Assets): Chỉ số thứ 2 Ad lướt soi, chỉ khác một xíu so với thằng Rờ O Em thì Rờ O Anh có sự thay đổi nhẹ ở mẫu số. Bằng việc xét đến Assets (tổng tài sản). Tổng tài sản ở đây bao gồm: tài sản cố định (bàn ghế, máy móc, nhà xưởng...) và tài sản lưu động (tiền mặt, tiền thu nợ, tiền gửi bank...). Nhìn sơ sơ ta cũng có thể thấy được ROA thường sẽ thấp hơn ROE vì tính thêm phần tài sản cố định vào. Tóm lại nó cho bạn biết với 100 đồng tổng tài sản của công ty, một năm thu lại bao nhiêu đồng lãi?

Thì cũng chả khác mấy ROE nên ace chú ý thêm phần tài sản cố định nhé! Thường mấy bác đầu tư lớn vào tài sản khấu hao mạnh như: HPG đầu tư vào tổ hợp nhà máy Dung Quất gần đây thì ROA sẽ giảm khá mạnh hay đại ca Vingroup đầu tư vào Vinfast, Vinsmart, VinUni...từ đấy đẩy ROA của VIC về còn đâu <2...Một số ví dụ nhẹ cho ace hiểu được, thường mấy ngành vậy phải chấp nhận ROA hơi thấp vì đầu tư tài sản nhiều khấu hao dần để tăng sức cạnh tranh, kéo lợi nhuận bền vững về lâu, về dài. Ngược lại mấy ông thần ở ngành khác ít đầu tư về tài sản cố định thì ROA cao thôi, vậy ta mới nhắc đi nhắc lại việc nên so sánh các đối thủ cùng ngành, mới thấy sự khách quan.

3. ROIC (Return On Invested Capital): Chỉ lợi nhuận sau thuế trên phần vốn chủ + nợ vay. Gần giống ông ROE chỉ thêm ở dưới mẫu phần vốn vay. Để thấy hiệu quả sinh lợi trên vốn đầu tư kèm tiền vay. Khác ở 2 ae ROE, ROA một xíu chỉ sử dụng tiền tươi thóc thật. Thì ở ROIC có thêm cái vốn vay cho thấy khả năng sử dụng vốn vay của doanh nghiệp có hiệu quả  hay không. ROIC thì ít có trên các báo cáo hay các trang, các bác có thể tính thủ công nhé 😎😎😎. Một doanh nghiệp Ad thấy ổn khi chỉ số này dao động quanh 15-20%.


 ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP DỰA VÀO EPS, P/E, P/B

Nối tiếp phần 1 về ROE, ROA, ROIC được nhiều bạn hưởng ứng. Nên hôm nay Ad viết thêm về 3 chỉ số khác, cũng khá chi là quan trọng và cần chú ý soi, trước khi nhà đầu tư phân tích sâu về báo cáo tài chính (BCTC). Đó là EPS, P/E, P/B.

1. EPS (Earning Per Share): Dịch từ tiếng Anh sang tiếng việt nghĩa là "Tiền kiếm được trên mỗi cổ phần" hay nôm na dễ hiểu là "Lợi nhuận trên một cổ phiếu". Bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chúng ta chia cho tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một doanh nghiệp. Khá easy đúng không nào, nhưng chỉ số này theo Ad nghĩ cực kì là quan trọng đấy. Vì cái đầu tiên quan trọng nhất nó phản ánh mức độ sinh lời (bao nhiêu tiền) trên một cổ phần của doanh nghiệp, mà nhà đầu tư đang quan tâm.

Thứ nữa một doanh nghiệp được gọi là tốt, theo kinh nghiệm của Ad thì EPS phải tăng trưởng tốt hằng quý, hằng năm. Có thể vài ba quý hay 1, 2 năm gì đó trồi sụt (do khách quan). Nhưng view chung thì phải tăng trưởng đều thì mới "ngon lành cành đào".

Bên cạnh đó chú ý đến việc chia cổ tức, phát hành thêm, bán ưu đãi, ESOP...sẽ làm giảm EPS làm mất "mỹ quan" cổ phiếu. Hạn chế những doanh nghiệp bên trên. Sự tăng trưởng của ESP (lợi nhuận) nên đi kèm với tăng trưởng của doanh thu để cho thấy mức độ tăng trưởng tốt của doanh nghiệp. Chứ lợi nhuận tăng nhưng doanh thu không tăng hoặc giảm đều thì nhiều khả năng có vấn đề?

Cuối cùng trong công thức tính EPS có phần tử số là "Lợi nhuận sau thuế". Nên việc tính cái lợi nhuận này phải bỏ đi các hoạt động tạo lợi nhuận bất thường? Ví dụ như năm ngoái bác Vượng "bán con" (Vinmart, Vinmart+, VinEco) cho Masan, thì cục lợi nhuận to đùng ấy khi tính các bác phải trừ ra cho EPS mình nó khách cmn quan. Vì lợi nhuận bất thường chỉ xảy ra một lần và nó không đại diện cho hoạt động tạo ra doanh thu, lợi nhuận chính cho doanh nghiệp.

2. P/E (Price/EPS): Sau khi tính được EPS, thì các bác chắc chắn sẽ tính được P/E hiện tại của một doanh nghiệp. Bằng các lấy thị giá trên sàn chia cho EPS vừa tính. Ra 5, 7, 10, 69... gì đấy. Thì về P/E, đinh giá P/E nhiều sách vở hay nói hơi khó hiểu thực ra bản chất đầu tiên của chỉ số này chỉ ra: "Sau bao lâu thì các khoảng đầu tư vào cổ phiếu này của các bác hoàn vốn?". Ví dụ P/E hiện tại của Coteccons (CTD) là 8 thì sau 8 năm từ lúc các bác xuống tiền, với giả định EPS không đổi thì các bác hoàn vốn đầu tư, tương tự với các cổ phiếu khác.

Ngoài ra, P/E được dùng khá phổ biến như một công cụ cho nhà đầu tư xem xét để phần nào biết được chứng khoán rẻ hay đắt. Nhưng việc rẻ hay đắt theo quan điểm của Ad thì sẽ có 2 vấn đề sau đây:

   - Thứ nhất: Nên so sánh P/E của các cổ phiếu thuộc một ngành, đừng so sánh khác ngành sẽ gây khập khiễng. Chúng ta không thể so sánh P/E của tập đoàn đa ngành như Vingroup với các công ty xuất khẩu thủy sản được.

   - Thứ hai: P/E cao hoặc rất cao có phải là đang quá đắt, không còn thơm nữa và P/E đang thấp và cực kì thấp so với các cổ phiếu cùng ngành liệu có phải là món hời? Thực tế thì không phải P/E cao thì có nguyên do của nó: cổ phiếu đang tăng trưởng, dòng tiền nhà đầu tư kì vọng đẩy thị giá lên...Và ngược lại mấy thanh niên P/E như cho không: cổ phiếu đang giảm trưởng, dòng tiền xa lánh không ai thèm múc thì thị giá giảm --> P/E giảm tương ứng.

Cuối cùng theo kinh nghiệm đầu tư của Ad thì P/E chỉ là một công cụ định giá mang tính tương đối. Nên các bác đừng bỏ qua một cổ phiếu nào trông P/E của nó có vẻ đang quá cao và ngược lại "tất tay" và những cố phiếu mà thị trường "xa lánh"!

3 P/B (Price/Book Value Per Share): là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó.

Công thức tính như sau:

P/B = Thị giá cổ phiếu / (Tổng giá trị tài sản – Giá trị tài sản vô hình – Nợ)

Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua. Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp.

Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao. Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính, bởi giá trị tài sản của các công ty này tương đối lớn.Vì công tác kế toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn ngặt nghèo, nên giá trị ghi sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra. Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn.

THUẬT NGỮ TIẾNG LÓNG

 + Phím hàng: là việc giới thiệu cơ hội đầu tư về 1 hoặc nhiều mã. Đây là hoạt động chiếm số lượng gần như 95% trong giới môi giới chứng khoán. Việc phím hàng có thể dựa trên phân tích hoặc theo tin đồn.

+ Đội Lái: Giới đầu tư chứng khoán ở Việt Nam tin rằng có những nhà đầu tư có tiềm lực lớn, có lợi thế về thông tin thường được gọi là nhà đầu tư cá mập. Các nhà đầu tư lớn có thể liên kết với nhau để đánh lên hay đánh xuống một cổ phiếu nào đó để kiếm lời hoặc hạn chế thua lỗ. Đội lái là từ ám chỉ các nhóm nhà đầu tư này. Vì bán khống vẫn chưa được phép ở Việt Nam, các đội lái thường tìm kiếm lợi nhuận bằng cách “đánh lên” cổ phiếu. Đội lái có lợi thế tiếp cận thông tin tốt sớm hơn thị trường nên sẽ lặng lẽ gom cổ phiếu đủ lượng mong muốn, sau đó cố tình cho rò rỉ các thông tin (càng tỏ ra khách quan càng tốt) để nhiều nhà đầu tư đến sau vào mua cổ phiếu này. Đến lúc đó, đội lái có thể bán ra để kiếm lời

+ Tay lông: Từ dùng để gọi nhà đầu tư nước ngoài. Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam được thống kê riêng để quản lý giới hạn cổ phiếu sở hữu (room) theo quy định. Đã từng có thời gian giao dịch của khối ngoại ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý nhà đầu tư trong nước, cả mua lẫn bán ở những mã cụ thể và toàn thị trường.

+ Cá mập/ Tay to: Đây là một từ lóng, từ dân dã được giới đầu tư chứng khoán sử dụng. Cá mập hay Tay to dùng để chỉ giới đầu tư có nguồn lực vốn lớn, nhà đầu tư tổ chức có ảnh hưởng đến giao dịch trên thị trường.

+ Múc/ xúc dùng để chỉ mua vào với quyết tâm cao độ, mua bằng mọi giá

+ Sọc (Short) hàng: dùng để chỉ việc bán khống (short sell), tức là mượn cổ phiếu không có trong tài khoản để bán sau đó mua để hoàn trả lại. Cũng thường để chỉ việc đầu cơ giá xuống vì dự báo thị trường/chứng khoán sắp sụt giảm.

+ Xả/Thoát hàng dùng để chỉ hoạt động bán ra với quyết tâm cao độ, bán bằng mọi giá.

+ Bò tùng xẻo: Ám chỉ việc thị trường giảm giá nhưng không xuống mạnh mà mỗi ngày xuống một ít, chỉ sự thua lỗ một cách từ từ

+ Cá mập: Cá Mập, Bìm Bịp và Chim Lợn là các công cụ của các Big Boy được các MM hỗ trợ. Trong đó vai trò nòng cốt là Cá Mập. Hai con kia thì phụ họa. Cá mập đại diện cho dòng tiền của các Big Boy đặt tại các công ty chứng khoán dưới dạng các tài khoản. Tuy là nhiều tài khoản nhưng tất cả đều thực hiện lệnh và thao tác gần như cùng lúc và bởi ý chí của một người. Các chiêu thức mà cá mập thường dùng là “Đè gom”, “Kéo xả”, “Đẩy trần”, “Giải cứu”, “Núp lùm”, “Bộ đội về làng”,... Mối liên hệ duy nhất của Cá Mập và các Big Boy sau các cuộc “Truy quét”, “Rung cây”, “Dụ gà”,... đó là các lệnh thỏa thuận lớn, hoặc cực lớn để các Cá Mập trả hàng về cho các Big Boy.

+ Bìm bịp & Chim lợn: Chim Lợn xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng kêu réo tung tin xấu để hỗ trợ Cá Mập thực hiện đòn “Đè gom”. Sau khi Cá Mập gom đủ hàng thì đàn Chim Lợn này sẽ về tổ và đàn Bìm Bịp được tung ra để bơm tin tốt hỗ trợ đòn “đẩy giá” của Cá Mập.

+ Lau sàn: giá giảm kịch sàn không phanh.

+ Úp sọt/úp bô/Kéo xả: bẫy chứng khoán, đẩy thị trường lên và sau đó bán ra

+ Bơm vá: Nghĩa là thổi phồng một loại cổ phiếu nào đó để nhằm bán ra kiếm lợi. Việc bơm vá còn ám chỉ ai đó PR một cổ phiếu nào đấy quá mức (bơm lên) mà lờ qua các thông tin bất lợi (vá chỗ thủng).

+ Lướt sóng: Dựa vào tình hình thị trường lên cao xuống thấp trong một thời gian ngắn giống như những con sóng để mua vào, bán ra kiếm lời.

+ Xanh vỏ đỏ lòng: thuật ngữ được dùng khi so sánh giữa 1 cặp chỉ số lớn nhỏ như [VN-Index và VN30] hoặc [HNX-Index và HNX30]. Khi chỉ số nhỏ (VN30, HNX30) giảm giá nhưng chỉ số lớn (VN-Index, HNX-Index) lại tăng giá. Điều này thể hiện nhóm các cổ phiếu vốn hóa lớn có sự chốt lời nhưng thị trường chung vẫn tăng. Thường sẽ được dùng để báo hiệu một xu hướng mới.

+ Bò tùng xẻo: Ám chỉ việc thị trường giảm giá nhưng không xuống mạnh mà mỗi ngày xuống một ít, chỉ sự thua lỗ một cách từ từ

+ Tuột quần: Nghĩa là thị trường, chứng khoán nào đấy đi xuống

+ Đu đọt: Trót đua trần cổ phiếu giá quá cao.

+ Lùa gà, dụ gà: cạm bẫy, và chiêu trò tinh vi để dụ những nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm.

+ Xài Đòn gánh: Sử dụng margin

+ Hàng nóng: Là cách mà dân chơi chứng khoán dành chỉ những cổ phiếu tốt (blue-chip), luôn được giới đầu tư săn tìm như Ngân hàng, dầu khí, viễn thông… Hàng nóng là hàng có đội lái, nó sẽ chỉ tăng mạnh khi đội lái gom đủ hàng.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

NEW TRADING FOR LIVING - PHƯƠNG PHÁP GIAO DỊCH MỚI ĐỂ KIẾM SỐNG



4. Indicator
Chúng ta có thể chia các indicator thành 3 nhóm: các indicator theo xu hướng, các oscillator, và các chỉ báo linh tinh. Các indicator theo xu hướng hoạt động tốt nhất khi thị trường dịch chuyển, nhưng chất lượng của các tín hiệu của những indicator này phân hóa mạnh khi thị trường đi ngang. Các oscillator bắt các điểm đảo chiều trong thị trường đi ngang nhưng cho các tín hiệu nguy hiểm khi thị trường bắt đầu có xu hướng. Các indicator khác cung cấp cái nhìn vào tâm lý đám đông. Trước khi sử dụng bất kỳ indicator nào, hãy đảm bảo rằng hiểu nó đo gì và cách nó hoạt động. Chỉ sau đó bạn có thể tự tin vào tín hiệu của nó

Các indicator theo xu hướng bao gồm các đường MA, các đường MACD (MA phân kỳ - hội tụ), Hệ thống Directional, On Balance Volume, Accumulation/Distribution, và các indicator khác. Các indicator theo xu hướng là các indicator đồng thời hoặc bị trễ - chúng thay đổi sau khi xu hướng đảo chiều. 

Các Oscillator giúp xác định các điểm đảo chiều. Chúng bao gồm MACD-Histogram, Force Index, Stochastic, Rate of Change, Momentum, Relative Strength Index, Elder-ray, Williams %R, và các indicator khác. Các oscillator là các indicator dẫn hướng hoặc đồng thời thường chạy trước giá. 

Các indicator khác cung cấp cái nhìn sâu hơn vào cường độ của các đợt tăng hoặc giảm giá. Chúng bao gồm New High-New Low Index, Put-Call Ratio, Bullish Consensus, Commitments of Traders, và các indicator khác. Chúng có thể là các indicator dẫn hướng hoặc đồng thời.


3. Các cái đuôi Kangaroo
Chỉ khi bạn nghĩ rằng một xu hướng chạy trốn sẽ tiếp tục – pop! – mô hình 3 thanh tạo thành một cái đuôi kangaroo báo hiệu một đảo chiều. Một cái đuôi kangaroo bao gồm một thanh đơn, rất cao, hai bên là hai thanh bình thường, nhô ra từ một sự đan chặt của giá. Các cái đuôi kangaroo chỉ lên phát ra các tín hiệu bán ở đỉnh thị trường, trong khi các cái đuôi kangaroo chỉ xuống xảy ra ở các đáy



2. Mức kháng cự là một mức giá mà tại đó phe bán đủ mạnh để làmgián đoạn hoặc đảo chiều một xu hướng tăng. Khi một xu hướng tăng chạm vào mức kháng cự, nó giống như một người đập đầu vào cành cây khi đang trèo lên cây – anh ta dừng lại và có thể quay xuống. Mức kháng cự được thể hiện trên biểu đồ bằng một đường ngang nối một hay nhiều đỉnh

Mức hỗ trợ là mức giá mà tại đó việc mua đủ mạnh để làm gián đoạn hoặc đảo ngược một xu hướng xuống. Khi một xu hướng xuống chạm mức hỗ trợ, nó bật lại giống như một thợ lặn chạm đáy và bật ra.


1. Giá mở cửa của một thanh giá ngày thường phản ánh ý kiến của những người nghiệp dư về giá trị. Họ đọc báo buổi sáng, tìm xem điều gì xảy ra hôm qua, có thể yêu cầu một sự chấp thuận của vợ về mua hoặc bán, và đặt lệnh trước khi đi làm. Những người nghiệp dư đặc biệt tích cực vào đầu ngày và đầu tuần. Các trader nghiên cứu mối quan hệ giữa giá mở cửa và giá đóng cửa tìm ra rằng giá mở cửa thường xảy ra ở gần đỉnh hoặc đáy thanh giá ngày. Việc mua hoặc bán bởi những người nghiệp dư vào đầu ngày tạo một thái cực cảm xúc từ đó giá thường bật lại vào cuối ngày. Trong thị trường tăng giá, giá thường tạo đáy trong tuần vào Thứ Hai và Thứ Ba, khi những người nghiệp dư chốt lời từ tuần trước, sau đó tăng giá lên đỉnh mới vào Thứ Năm hoặc Thứ Sáu. Trong thị trường giảm giá, đỉnh của tuần thường là Thứ Hai hoặc Thứ Ba, với mức đáy mới nằm cuối tuần.

Giá đóng cửa của các thanh giá ngày và tuần thường phản ánh hành động của các trader chuyên nghiệp. Họ theo dõi thị trường suốt cả ngày, phản ứng với các thay đổi, và thường áp đảo giờ giao dịch cuối cùng. Nhiều người trong số họ chốt lời vào thời gian này để tránh để lệnh qua đêm.Những người chuyên nghiệp là một nhóm thường giao dịch ngược với những người nghiệp dư. Họ thường mua thấp hơn giá mở cửa, bán cao hơn giá mở cửa, và thoát các lệnh khi ngày tiếp tục. Các trader cần chú ý mối quan hệ giữa giá đóng cửa và giá mở cửa. Nếu giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa, thì các trader chuyên nghiệp trong thị trường có thể muốn tăng giá hơn những người nghiệp dư. Nếu giá đóng cửa thấp hơn giá mở cửa, thì những người chuyên nghiệp trong thị trường có thể muốn giảm giá hơn những người nghiệp dư. Đáng giá để giao dịch với những người chuyên nghiệp và ngược lại với những người nghiệp dư. Biểu đồ dạng nến được dựa trên mức độ lớn của mối quan hệ giữa mức giá đóng cửa và giá mở cửa của mỗi thanh. Nếu giá đóng cửa cao hơn, cây nến màu trắng, còn nếu thấp hơn, cây nến màu đen