• Hãy coi giao dịch là một nghề nghiệp

    bởi nghề nghiệp sẽ giúp bạn kiếm tiền, còn sở thích sẽ luôn làm bạn mất tiền

  • Đầu tư là nghệ thuật hơn là khoa học

    Mà nghệ thuật thì cần thời gian để có thể cảm thụ được. Để cảm thụ được thị trường, sẽ phải mất 3-5 năm

  • Mọi con sóng tăng giá, giảm giá của VNI đều có yếu tố vĩ mô tác động

    hiều biết vĩ mô kém rất dễ khiến bạn sập hầm

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

NHỮNG YẾU TỐ VĨ MÔ TRONG NƯỚC CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG.


Chủ đề không mới, nhưng có lẽ không lỗi thời. CPI, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền M2, TB tác động thế nào đến chỉ số giá chứng khoán? Mình sẽ viết ngắn gọn nha. Lý thuyết là cần thiết mà.

1. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG CPI – CONSUMER PRICE INDEX

Theo Samuel& Nordhaus CPI dựa vào giá bán lẻ của các mặt hàng chính trong nền kinh tế: Lương thực, thực phẩm, chất đốt..

CPI tăng cao gây ra các yếu tố đầu vào (inputs) của doanh nghiệp lớn hơn, nhưng những doanh nghiệp nào mà không tăng giá bán sản phẩm đầu ra (outputs) tương ứng (vì sự cạnh tranh giá trên thị trường, hoặc theo quy định của Chính phủ) thì chắc chắn lợi nhuận sẽ giảm. Giá chứng khoán giảm.

Thêm vào đó, lạm phát tăng cao, người dân không muốn giữ tiền mặt. Những người khôn ngoan sẽ để tiền của mình vào, vàng, bất động sản,… Một lượng tiền lớn trong dân cư không huy động được. Lúc này doanh nghiệp thiếu vốn làm ăn, sản xuất bị thu hẹp và ảnh hưởng xấu tới kinh tế. Hậu quả, giá chứng khoán giảm nữa.

(Tất nhiên chúng ta có khái niệm - Lạm phát ᴠừa phải (moderate inflation): Không gâу ra những tác động nhiều ᴠới nền kinh tế, nó còn có khả năng khích thích ѕản хuất ᴠì giá tăng nhẹ làm tăng lợi nhuận ѕẽ khuуến khích các DN tăng ѕản lượng. Nhưng khi vượt qua khỏi vùng này, sẽ là lạm phát đi ngược chiều nền kinh tế)

2. LÃI SUẤT ( INTEREST).

Pearce chỉ ra, lãi suất là giá của dịch vụ tiền tệ. Như này, khi lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng, lợi nhuận doanh nghiệp giảm, giá chứng khoản giảm.

Thêm nữa, lãi suất tăng làm tăng lãi suất chiết khấu được sử dụng để chiết khấu dòng tiền tương lai khi định giá chứng khoán. Giá chứng khoán giảm.

Mặt khác, lãi suất tăng làm cho những người vay tiền để đầu tư chứng khoán gặp nhiều rủi ro trong quá trình đầu tư hơn. Việc đầu tư chứng khoán trở nên kém hấp dẫn, số người tham gia đầu tư sẽ ít đi. Giá chứng khoán giảm.

3. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (EXCHANGE RATE)

Tỷ giá hối đoái tác động đến giá chứng khoán trong nhiều khía cạnh khác nhau.

Thứ nhất, tác động đến khả năng cạnh tranh của các công ty xuất – nhập khẩu. Rõ ràng: khi mà đồng nội tệ thấp hơn so với ngoại tệ, giá cả hảng hoà xuất khẩu của quốc gia đó sẽ rẻ hơn so với hàng nước ngoài. Từ đó khả năng cạnh tranh của nước xuất khẩu sẽ lớn hơn, lợi nhuận sẽ tăng thêm và giá chứng khoán của doanh nghiệp sẽ tăng.

Thứ hai, tỷ giá hối đoái tác động đến dòng vốn đầu tư gián tiếp vào thị trường. Khi mà đồng nội tệ kì vọng tăng giá so với ngoại tệ lớn, TTCK trở nên hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó dẫn tới cầu về chứng khoán sẽ tăng và giá chứng khoán sẽ tăng theo.

Tỷ giá hối đoái - Đồng biến, hoặc nghịch biến!

4. CUNG TIỀN M2

Theo Pearce M2 gồm: Tổng lượng tiền mặt do NHTW phát hành đang được lưu thông, tiền mà NHTM gửi tại NHTW va tiền gửi tiết kiệm nữa.

Cung tiền M2 khi tăng, sẽ làm tăng tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lạm phát tăng dẫn tới lợi nhuận doanh nghiệp giảm, giá chứng khoán sẽ giảm.

Nhưng quan điểm khác cho rằng, khi cung tiền M2 tăng, tăng tiêu dùng hàng hoá, tăng sử dụng các tài sản chính, tăng thanh khoản trên TTCK. Giá chứng khoán sẽ tăng.

Còn nữa, khi cung tiền tăng làm lãi suất thực giảm. Lãi suất thực giảm làm lãi suất chiết khấu được sử dụng để định giá chứng khoán giảm hoặc các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp giảm. Từ đó giá chứng khoán tăng.

Vậy M2 có thể đồng biến hoặc nghịch biến.

5. CÁN CÂN THƯƠNG MẠI (TB- TRADE BALANCE).

Cán cân thương mại tác động qua tỷ giá. Khi TB thâm hụt, các nhà đầu tư sẽ bi quan về thị trường. Giá chứng khoán giảm.

Khi TB bị thâm hụt lâu dài, các quốc gia có thể phá giá đồng tiền của họ để tạo lợi thế cạnh tranh, tác động tỷ giá hối đoái , tác động đến lợi nhuận của DN xuất khẩu như nói ở phần 3. Từ đó tác động lên giá chứng khoán. Thank anh Vũ Hải Đăng chỉ ra cho em cái funfact này hehe 😉

Việc phá giá đồng tiền đã xảy ra nhiều trên thế giới. Đặc biệt là ở Trung Quốc, bắt đầu từ 2015. Đúng ra trước đó, những năm 2014 Trung Quốc liên tục giảm lãi suất để kích thích nền kinh tế, nhưng biện pháp này không đem lại nhiều hiệu quả cụ thể. Cho đến tháng 8 năm 2015, Ngân hàng Trung Quốc (PBoC) chơi lớn khi phá giá đồng nhân dân tệ (NDT) gần 2% so với đồng USD để kích thích nền kinh tế và là công cụ để kích thích xuất khẩu của đất nước. Đến 2017, khi tính chung trên cả năm, hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc tăng 7,9% - mức cao nhất kể từ năm 2013, trong khi nhập khẩu cũng ghi thêm 15,9% - mức cao mới tính từ năm 2011. Chính vì những lo ngại về nền kinh tế và phá giá NDT này mà Trump đã phải liên tục ra các biện pháp trừng phạt, áp thuế. 3/2018 đã xảy ra sự kiện mà chúng ta ai cũng biết " Chiến tranh thương mại Mỹ Trung" chính thức nổ súng, bóp cò!





Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

CHUYỆN CỦA NHÀ BANKS – PHẦN 1: LDR

Thời gian gần đây, mình gặp được rất nhiều các câu hỏi của anh chị về cơ bản ngành ngân hàng. Và thật lòng mà nói, đây không phải ngành dễ phân tích và bản thân mình cũng không thể nào hiểu rõ mọi khía cạnh của ngành. Tuy nhiên, theo mình, nếu anh chị muốn tìm hiểu về ngành này, thì anh chị nên nắm rõ một vài chỉ số. Bài viết hôm nay, mình sẽ chia sẻ về tỷ lệ LDR.

Với anh chị nào thích tìm hiểu về lịch sử kinh tế Việt Nam hoặc ở đủ lâu tại thị trường đều nhận ra tử huyệt từ làm hệ thống lao đao hơn chục năm trước. Chuyện này để cuối bài mình kể với anh chị nhé ^^ Vào vấn đề chính trước đã.

1. LDR là gì?

LDR là viết tắt của Loan to Deposit Ratio. Chỉ số này được rất nhiều chuyên gia nhắc đến để dự đoán xu hướng. Nghe thì rất cao siêu, nhưng thực tế chúng ta có thể hiểu đơn giản chỉ số này theo công thức sau:

LDR = Vốn cho vay/ Vốn huy động

Trong đó, vốn cho vay khách hàng là tổng hợp tiền cho vay, tiền cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dòng tiền thuộc nghiệp vụ khác của ngân hàng như:  bao thanh toán, chiết khấu các loại giấy tờ có giá. 

Còn vốn huy động được tính bằng công thức: Vốn huy động = Tiền gửi khách hàng – tiền gửi vốn chuyên dùng – Tiền gửi ký quỹ + Giấy tờ có giá

Để dễ hiểu, chúng ta lấy TCB & ACB làm ví dụ nhé: (Ảnh dưới)




LDR (TCB) = 343.605.581 / (314.752.525 + 33.679.824 - 10.997.126) = 101.83%

LDR (ACB) = 356.050.950 / (379.920.669 + 30.547.883 – 1.681.719 – 168.865) = 87.14%

Có thể thấy tỷ lệ của 2 ngân hàng trên khá chênh nhau. Vậy thế nào mới là tốt?

2. LDR thế nào là phù hợp?

Trên lý thuyết, con số này sẽ không thể vượt quá 100%. Nhưng thực tế thì Ngân hàng có thể huy động vốn từ nhiều nguồn nên đôi khi chúng ta có trường hợp của TCB như trên.

Nếu LDR > 100%, thì vốn cho vay còn lớn hơn cả tiền huy động được => Rõ ràng chúng ta sẽ thấy ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Hiểu đơn giản, LDR lên cao quá thì khả năng tự bảo vệ khỏi nguy cơ bị rút tiền gửi sẽ kém đi kha khá.

Vậy nếu LDR nhỏ thì là tốt sao? Cái này theo mình cũng không hẳn đâu. Vì khi đó, một là ngân hàng đang thể hiện tính thanh khoản thấp, chất lượng phục vụ tệ. Hai là để nhận định một ngân hàng có rủi ro hay không chúng ta phải kết hợp với nhiều yếu tố khác như chất lượng tín dụng, rủi ro kỳ hạn, v.v => Mọi thứ quá sớm để kết luận.

Hiện tại mức trần LDR được áp dụng tại quê ta là 85%, và nhiều chuyên gia cũng nhận định từ 80 – 90% là an toàn. Tuy nhiên, cá nhân mình nghĩ không có một con số nào nên được đưa ra làm chuẩn mực; anh chị nên kết hợp thêm nhiều yếu tố khác để lựa chọn con số này.

Thường mình sẽ hay lựa chọn các banks có mức LDR từ 75%-85% vì khi đó dư địa cho vay sẽ vẫn còn nhiều => tăng trưởng có thể sẽ nhỉnh hơn các banks khác có mức cao vượt trần.

3. Chuyện mới, chuyện cũ về chỉ số này

Ở các nền Tài chính khác, CAR mới là “con đẻ”, còn người em LDR chẳng mấy khi được coi trọng. Lí do là vì cho vay là hoạt động lớn, nhưng không chiếm cả tảng như ở quê mình. Phần còn lại từ vốn huy động, họ sẽ tham gia đầu tư trên thị trường vốn, mua bán trái phiếu chính phủ và các giấy tờ có giá khác sôi nổi hơn.

Còn ở Việt Nam, nói đến banks, hiếm chuyên gia phân tích nào bỏ chỉ số ấy. Sở dĩ LDR được ưa chuộng do nhiều năm liền, các banks cấp tín dụng dễ dãi khiến tăng trưởng tín dụng trở nên nóng. Và tiền đó đổ vào đâu? Nếu đổ vào SXKD thì mình sẽ không có ý kiến gì, nhưng lượng tiền khổng lồ lại chảy vào BĐS vào các dự án BOT rất nhiều gây ra rủi ro lớn. Ngoài ra, cũng không ít ngân hàng cho vay sân sau, cho vay đảo nợ, cho vay với đối tượng nợ xấu, nhiều lúc còn chẳng thu hồi được nợ cũ mà vẫn cho vay mới,…

Chuyện cũ vẫn đôi khi là vết thương hở đối với nhiều ngân hàng. Năm 2011 chính xác là hệ quả của chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm dẫn đến sự mất cân đối giữa dư nợ tín dụng và tổng huy động vốn. LDR toàn ngành trung bình là gần 120% (không tính các cách lách trần tín dụng thì con số này còn cao nữa). 

Anh chị tưởng tượng thanh khoản toàn hệ thống ngân hàng căng thẳng, các banks thi nhau tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn để hút tiền. => Áp lực chi phí lớn khiến nhiều ngân hàng không kiểm soát được.

Rơi vào thế bí, khách rút tiền mà ngân hàng không xoay được, nhiều ngân hàng phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng chỉ biết cách tăng lãi suất, dẫn đến những lúc lãi suất liên ngân hàng đạt đến 30%. 

Kết quả là có gần 10 ngân hàng trong diện tái cơ cấu bắt buộc do bị mất thanh khoản, trong đó có thanh khoản kỳ hạn mà đến nay, hậu quả vẫn chưa giải quyết triệt để…

Trên đây là câu chuyện khá thú vị mà mình muốn chia sẻ với các anh chị. Chỉ số này là quan trọng tại Việt Nam, nhưng anh chị nên kết hợp với nhiều yếu tố khác để có một cái nhìn chính xác hơn về ngành và về bank mình quan tâm.

BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ TRONG PHÂN TÍCH DOANH NGHIỆP

 1. Khái niệm

BCLCTT (Cash Flow Statement) là một bản báo cáo tài chính doanh nghiệp tổng hợp lại tình hình thu, chi tiền tệ của doanh nghiệp.

Khi đọc BCTC, nếu như Bảng cân đối kế toán giúp thể hiện giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm, Bảng kết quả hoạt động kinh doanh giúp người đọc nắm được tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong năm của doanh nghiệp là bao nhiêu, thì Báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cung cấp thêm rất nhiều thông tin quan trọng không được làm rõ trong 2 bản còn lại như: Tại sao một doanh nghiệp có lãi mà không có tiền?, Trong kỳ doanh nghiệp đã mua sắm và thanh lý bao nhiêu tài sản cố định?,...

2. Các dòng tiền trong CFS

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Gồm có những khoản thu, chi liên quan đến hoạt động mua sắm, đầu tư hay thanh lý những tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn.

Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Gồm có những khoản thu, chi liên quan đến hoạt động huy động vốn từ chủ nợ và chủ sở hữu. Hay hoàn trả vốn cho chủ nợ, chia lãi cho nhà đầu tư, chia cổ tức cho cổ đông, mua lại cổ phần.

CFF còn được hiểu là dòng tiền làm thay đổi vốn lưu động

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (Operating Cash Flow): Là một trong những chỉ báo rất quan trọng và được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu khi đánh giá tình hình hoạt động của công ty. OCF bao gồm có các khoản thu, chi liên quan đến hoạt động tiêu thụ và sản xuất sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp.

Có 2 phương pháp để tính OCF:

Trực tiếp: OCF = Tổng doanh thu – Chi phí hoạt động

Gián tiếp: OCF = EBIT + Khấu hao – Thuế

Trong đó: EBIT là lợi nhuận trước lãi vay và thuế. Khấu hao là chi phí cho tài sản bị hao mòn

Cách tính trực tiếp khá đơn giản, độ chính xác cao nhưng không mang lại đầy đủ thông tin về hoạt động của công ty, các nguồn tiền cho nhà đầu tư. Do đó phần lớn các doanh nghiệp hiện nay áp dụng cách tính gián tiếp để hiểu về OCF và lưu chuyển dòng tiền thuần.

Lưu ý: Các nhà đầu tư thường có xu hướng tìm đến doanh nghiệp đạt OCF ngưỡng cao, tăng trưởng tốt với định giá còn thấp. Do đó nếu OCF < NetIncome hoặc OCF < 0 là một tín hiệu đáng chú ý khi phân tích doanh nghiệp vì khi đó công ty có thể đang không thực sự có năng suất hoạt động tốt, không chuyển hóa được lợi nhuận thành tiền mặt và cần xem xét lại hoạt động kinh doanh.

Tuy nhiên OCF âm không khẳng định hoàn toàn việc doanh nghiệp đang gặp khó khăn.

Ví dụ trong trường hợp công ty đang đầu tư thêm tiền cho việc xây nhà máy, phát triển mô hình hoặc mở rộng kinh doanh thì chi phí hoạt động sẽ tăng cao, dẫn đến việc OCF âm trong một giai đoạn nhất định.

3. Lợi nhuận cao có phải là tất cả khi chưa phân tích đến dòng tiền?

Hoạt động kinh doanh vốn được ví như là trái tim của một cơ thể, còn dòng tiền chính là dòng máu nóng của cơ thể đó. Để xem xét một doanh nghiệp có “khỏe” hay không? Trước hết phải xem xét dòng máu nóng của doanh nghiệp có vận hành tốt không? Trên thực tế, có khá nhiều nhà đầu tư bỏ qua hoặc xem nhẹ Báo cáo LCTT khi đọc BCTC, điều này có thể dẫn đến việc bị “qua mặt” bởi các con số thể hiện nhận lợi nhuận cao, tăng trưởng rất mạnh mẽ nhưng không hiểu được dòng tiền đó có bản chất thế nào.

Ví dụ: Vào thời điểm năm 2017, HBC ghi nhận lợi nhuận kỉ lục tại mức 859 tỷ VNĐ - tăng trưởng gấp hơn 10 lần so với 2 năm trước đó. Nếu chỉ nhìn vào con số này, nhà đầu tư sẽ cho rằng công ty đang làm ăn rất tốt, cùng với đà đi lên mạnh mẽ của thị trường BĐS và sự im ắng của các đối thủ cạnh tranh khác như CTD lúc bấy giờ, thị giá cổ phiếu HBC được đẩy lên mức 49.950 đồng/cổ phiếu, tăng 233% so với năm 2015.

Tuy nhiên khi phân tích đến dòng tiền, HBC lại có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh âm đến 1.059 tỷ, chứng tỏ dù công ty ghi nhận mức lãi cao nhưng đang không thu về được tiền thật, dẫn đến việc phải đi vay để bù lại khoản bị khách hàng nợ tiền, không thanh toán và chiếm dụng vốn.

Như vậy thực chất, cổ phiếu HBC đang gặp áp lực về mặt dài hạn. Ngay sau thời điểm này, cổ phiếu HBC đã phải gánh chịu cơn “địa chấn” với hàng nghìn tỷ đồng vốn hóa bị bốc hơi, các khoản phải thu và nợ vay tài chính tăng cao và chiếm tỉ trọng lớn. Sau những đợt phát hành cổ phiếu khiến thị giá bị pha loãng, từ một cổ phiếu lớn với mức giá 6x, năm 2020 mức giá cổ phiếu HBC đã trôi về vùng 6.000 đồng.

4. Một số ví dụ

Bán hàng và thu tiền : CFO

Mua 20% cổ phần của công ty X để nắm giữ dài hạn : CFI, công ty X là công ty liên kết, dòng tiền này, sẽ tạo ra tài sản đầu tư dài hạn ở trên bảng cân đối kế toán, nên sẽ làm dòng tiền đầu tư

Nhận cổ tức tiền mặt từ công ty X : CFI (một phần CFO theo chuẩn mực quốc tế). Vì dòng tiền này  khi nhận, nó không trực tiếp làm thay đổi vốn lưu động của chủ sở hữu, nên không thể là CFF

Trả cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông : CFF vì dòng tiền này làm thay đổi vốn lưu động của chủ sở hữu

Trở nợ gốc vay : CFF vì dòng tiền này làm thay đổi vốn chủ sở hữu

Trả lãi vay  : CFO, vì doanh nghiệp sẽ phải lấy tiền từ hoạt động kinh doanh để trả lãi ( thỉnh thoảng là CFI tính vào tiền đầu tư)

Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư công ty sản xuất thường âm, nếu dương, chứng tỏ công ty đang thu tiền đầu tư về, hay là thu nhỏ hoạt động kinh doanh trong tương lai, giảm lợi nhuận trong tương lai

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2022

Giao dịch như một phù thủy chứng khoán - tác giả: Mark Minervini.

1. Chấp nhận mất cơ hội, không chấp nhận mất tiền.

2. Thấy xác suất chắc chắn mới mua, không chắc chắn không mua.

3. Không chịu chấp nhận lỗ nhỏ sẽ phải chịu lỗ lớn, do đó phải cắt lỗ đúng kế hoạch, kỷ luật.

4. Xem xét các rủi ro có thể, khả năng lỗ bao nhiêu, rồi mới xem xét tới việc có thể thu lãi bao nhiêu trước khi thực hiện một giao dịch.

5. Tiền chỉ ở lại với bạn khi bạn bảo vệ nó. Đầu tư bẩn cẩn là con đường chắc chắn dẫn tới thua lỗ.

6. Lợi nhuận hôm qua chính là số vốn của hôm nay, hãy bảo vệ nó. 

7. Sau khi thành công, đặc biệt khi trải qua giai đoạn thành công nhất, khi mà ta đang nghĩ rằng: mình thật tài giỏi, thì đó là thời điểm khoản lỗ lớn nhất sẽ xuất hiện.

8. Sau một thời gian giao dịch thành công, bạn bắt đầu trở nên tham vọng, đầu óc bay bổng lên trời. Do đó, tuân thủ các nguyên tắc quản trị rủi ro sẽ giúp bạn giữ gìn lợi nhuận và giữ cho đôi chân của bạn đứng vững trên mặt đất.

9. Thành công không được quyết định bằng khoản lãi trong một ngày, một tháng hoặc một quý, mà đó là số tiền bạn kiếm được trong dài hạn. 

10. Cắt lỗ nhanh, đúng kỷ luật là chìa khóa cho thành công trong đầu tư chứng khoán.

11. Hãy biến quản trị rủi ro trở thành nền tảng cơ bản trong tư duy của bạn.

12. Thua lỗ sẽ khiến bạn làm việc vất vả hơn. Do đó, không bao giờ cho phép bản thân thua lỗ đến mức làm hủy hoại tài khoản. Khi khoản lỗ lớn, rất khó để trở lại điểm hòa vốn.

13. Nhà đầu tư vĩ đại là người bắt đầu hiểu tác hại của thua lỗ.

14. Làm sao để biết mình đã giao dịch sai lầm? Rất đơn giản. Đó là khi cổ phiếu giảm giá.

15. Bất kể phương pháp đầu tư của bạn là gì, hãy bảo vệ tài khoản khỏi bị lỗ lớn là hãy sớm cắt khoản lỗ khi nó còn nhỏ. Không có cách nào tốt hơn. Nếu không chấp nhận khoản lỗ nhỏ, chắc chắn bạn sẽ gặp phải khoản lỗ lớn.

16. Không có cổ phiếu nào là an toàn để nắm giữ vĩnh viễn. Tất cả các cổ phiếu đều xấu, trừ khi nó tăng giá.

17. Giao dịch trên thị trường chứng khoán là bạn đang chơi với xác suất chứ không phải sự chắc chắn. Nghĩa là bạn không thể luôn luôn đúng. Đừng bao giờ suy nghĩ: đây là cơ hội giao dịch đặc biệt để rồi buông lỏng quản trị rủi ro và chấp nhận mạo hiểm. Hãy xem tất cả mọi giao dịch đều bình thường như nhau, không có giao dịch nào là cơ hội “ngàn năm có một” cả.

18. Chúng ta kiếm tiền bằng cách kiên nhẫn chờ đợi chứ không phải bằng giao dịch.

19. Trên thị trường chứng khoán, bạn có quyền đứng sang một bên, kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc để chớp lấy. Đó là lợi thế tuyệt vời nhưng chỉ ít người có thể khai thác nó.

20. Không nên bắt buộc bản thân phải giao dịch theo mỗi chuyển động của thị trường. Hãy quan sát và chọn thời điểm đặt cược thật cẩn thận. Trong khi bạn chẳng làm gì cả, những kẻ thiếu kiên nhẫn đang đặt nền móng cho sự thành công của bạn. bạn chỉ cần chờ đợi cơ hội xuất hiện một cách miễn phí và chớp lấy.

21. Thua lỗ là một phần của giao dịch và đầu tư. Hãy đối diện với chúng, sẵn sàng bỏ qua cái tôi để tuân thủ nguyên tắc cắt lỗ.

22. Bạn không thể kiểm soát được cổ phiếu sẽ tăng giá bao nhiêu, nhưng bạn có thể kiểm soát được số tiền thua lỗ ở mỗi giao dịch.

23. Hãy thề với bản thân rằng sẽ không bao giờ vượt qua ranh giới thua lỗ.

24. Không bao giờ mua trung bình giá xuống. Nó giống như việc bạn đang ở dưới đáy một cái giếng và tiếp tục đào nó sâu xuống.

25. Không bao giờ đưa ra quyết định được ăn cả, ngã về không trong giao dịch trên thị trường chứng khoán.

26. Chìa khóa để tạo dựng thành công là bảo toàn vốn và chờ đợi thời cơ để tìm kiếm lợi nhuận vượt trội.

27. Hãy bán khi giá cổ phiếu đang tăng mạnh, đó là lúc đang có nhiều người mua.

28. Không bao giờ có suy nghĩ bắt đáy. Bắt đáy là bắt dao rơi. 

29. Chỉ nên ăn no 80%. Đừng bao giờ cho rằng mình sẽ phải ăn trọn con sóng, bán ngay đỉnh giá.

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2022

Lướt sóng cổ phiếu ăn 5 – 7% dựa vào Quy tắc 10 phiên

  Rất nhiều NĐT tham  gia thị trường chứng khoán với tâm lý lướt sóng – ăn nhanh và hôm nay sẽ giới thiệu với các bạn 1 mẹo lướt sóng cổ phiếu đơn giản , tiện cho các bạn thích phong cách mua mua – bán bán  ! 

   Quy tắc 10 phiên dựa vào  quá trình tái tích lũy của cổ phiếu : 

- Bước 1 : Bạn sẽ đi tìm những cổ phiếu có dạng tích lũy – Kiệt cung ( Biên độ giao động rất  nhỏ , đã đi ngang khoảng 5 phiên – ưu tiên chọn cổ phiếu có dòng tiền trước đó) 

-  Bước 2 : Đếm phiên – Hầu hết NĐT sẽ nghĩ đếm từ phiên bắt đầu đi ngang, nhưng không ! Ta sẽ đếm từ phiên có dấu hiệu tăng giá – Phiên có dấu hiệu tăng giá được xác nhận là phiên  có nến  xanh, tính từ phiên thứ 3 của quá trình đi ngang  ( có thể là nến doji, nến có  giá đóng cửa ở mức cao nhất, nến xanh bao trùm thân nến đỏ trước đó  và ưu tiên có KL nhỉnh hơn– Phiên trước đó thường là   nến đỏ hoặc doji ) .  Phiên xác nhận được tính là phiên T0 , Khoảng thời gian break sẽ từ T3-T10 . Thời gian mua T1+ T2

- Bước 3 : Mua vào và chờ đợi phiên bùng  nổ ( ta sẽ bán ngay trong phiên này ăn từ 4% -7 %  may mắn hơn sẽ có 10% hoặc bán phiên sáng hôm sau  ) Phải bán luôn trong phiên vì nhiều cổ phiếu break ảo và sẽ tiếp tục quá trình đi ngang .






Chỉ số P/B trong định giá ngân hàng

 1. CHỈ SỐ P/B LÀ GÌ?
P/B là viết tắt của Price to Book Value Ratio (PBR). Đây là hệ số thể hiện giá cổ phiếu cao hơn tài sản ròng (được ghi trên báo cáo tài chính) của doanh nghiệp bao nhiêu lần.
Ví dụ: hiện tại chỉ số của P/B của Ngân hàng quân đội MBBank là 1.8, tức là để sở hữu cổ phiếu MBB, nhà đầu tư chấp nhận trả 1.8 lần giá trị sổ sách

2. CÔNG THỨC TÍNH P/B
P/B = Giá thị trường/ Giá trị sổ sách của 1 cổ phiếu = Vốn hóa công ty/Vốn chủ sở hữu


3. CHỈ SỐ P/B KHI ĐỊNH GIÁ NGÀNH NGÂN HÀNG
Hệ số P/B thường được sử dụng định giá vì đặc thù của nhóm ngân hàng là kinh doanh dựa trên hiệu suất của tài sản. Khi có một sự thay đổi trong chất lượng tài sản, lợi nhuận sẽ thay đổi rất lớn. Trong năm 2021, lãi suất đầu vào cho các khoản tiền gửi giảm, biên lãi thuần cải thiện, giúp ngân hàng đạt tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao.
Mối quan hệ giữa chỉ số P/B và ROE cũng nên được xem xét khi đánh giá ngân hàng. Thông thường, P/B sẽ có tỉ lệ thuận với ROE vì những nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn để mua cổ phiếu của một công ty mang lại nhiều lợi nhuận cho mình. Những công ty có tỉ lệ tăng trưởng cao thường sẽ có chỉ số P/B cao tương ứng.
Ví dụ: Một ngân hàng có chỉ số P/B cao và ROE thấp mang hàm ý rằng tổng tài sản của doanh nghiệp không còn tăng trưởng tốt nữa. Điều này đồng nghĩa với việc, ngân hàng này đang được định giá quá cao. Ngược lại, nhà đầu tư có thể xem 1 ngân hàng với chỉ số P/B thấp và ROE cao là một cơ hội đầu tư tiềm năng. Mối liên hệ giữa P/B và ROE còn được thể hiện qua công thức: P/B = (ROE – g) / (r – g). (Trong đó: g là tỉ lệ tăng trưởng, r là chi phí vốn chủ sở hữu).
Cuối cùng việc kết hợp thêm những chỉ số sau sẽ giúp nhà đầu tư tìm được những cổ phiếu ngân hàng tiềm năng cho mình:

  • NIM: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần, là sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng, cho biết hiện các ngân hàng đang thực sự hưởng chênh lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu. Tỷ lệ này càng cao và cải thiện chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng tốt.
  • CASA: Là loại tiền gửi không kỳ hạn được tính qua từng ngày. Tỷ số này càng cao thì giúp ngân hàng huy động được nguồn vốn với chi phí càng thấp, từ đó tác động làm tăng hệ số NIM của ngân hàng.
  • NPL: Là chỉ số nợ xấu dùng để chỉ các khoản nợ khó đòi. Ngân hàng càng có tỷ lệ nợ xấu cao thì càng cần phải trích lập dự phòng nhiều hơn và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
  • LLR: Là số dư dự phòng của các khoản nợ xấu, được dùng để đánh giá khả năng phòng thủ của ngân hàng trước những rủi ro liên quan đến nợ xấu. Việc ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn 100%, có nghĩa là việc xử lý nợ xấu tốt và duy trì được nợ xấu đang thấp hơn số dự trữ đang có. Tỷ lệ này cao có nghĩa là ngân hàng đang trích đủ dự phòng, dùng dự phòng đó xóa đi khoản nợ xấu lâu ngày, đồng thời quỹ dự phòng cũng giảm xuống. Nếu tỷ lệ bao nợ xấu càng cao thì chất lượng tài sản của ngân hàng đó càng tốt.
  • CIR: Là tỷ lệ chi phí trên thu nhập giúp chúng ta xem xét mức độ quản trị hiệu quả của doanh nghiệp. Ví dụ: CIR của MBB là 35.2% và con số này giảm dần qua các năm, chứng tỏ bằng cách nào đó doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí vận hành
  • Tăng trưởng tín dụng: Là chỉ tiêu quan trọng vì hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu nhập trong hiện tại và tương lai của ngân hàng và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Tổng tài sản


Hình 1: Mối quan hệ giữa P/B và ROE của VCB


Hình 2: Dữ liệu ngành Ngân hàng Việt Nam

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2022

Tổng hợp Quản trị rủi ro

 Tôi xin tóm tắt một số điểm cơ bản:
- Quản trị chặt nếu bạn mới mua cổ phiếu, cắt lỗ theo các mức 5% - 10%. 
- Không để một “deal” – một lần mua cổ phiếu – lỗ quá 1 đến 2% tổng tài sản của bạn (tuỳ khả năng chịu rủi ro của bạn)
- Không nên để danh mục có quá nhiều cổ phiếu, dẫn đến việc bạn loay hoay không biết làm gì. Rất dễ cắt lỗ đúng cổ phiếu tốt và giữ cổ phiếu yếu.
- Khi bạn có lời, bạn phải coi đó là vốn của bạn. Đừng để mất khoản lãi, nếu cổ phiếu bất ngờ quay đầu giảm mạnh, bạn phải biết “chốt” ở những điểm xác định trước
- Hãy chú ý tới những cổ phiếu đang tăng và quay đầu giảm mạnh xuyên MA50, thì đừng tin tiềm năng triển vọng hay báo cáo tài chính tốt. (hãy xem video về MA50 của tôi gần đây)
(3) Đặc biệt các bạn hãy chú ý tới những dòng mà có rất nhiều cổ phiếu thủng MA50. Tôi đã nhận thấy dòng Chứng khoán thủng MA50 cách đây vài phiên, và phiên hôm này là một điểm xác nhận (không phải cổ phiếu nào cũng dùng MA50 là đúng đâu nhé)
(4) Khi bạn đã quản trị tốt danh mục, quản trị rủi ro tốt thì bạn chắc chắn sẽ rất nhàn nhã xử lý tài khoản. Lúc này điều quan trọng là quan sát, tìm những tín hiệu gợi ý từ thị trường về những nhóm cổ phiếu mạnh. Không gì dễ hơn tìm các cổ phiếu mạnh trong những đợt giảm điểm tạm thời

Chủ đề quản trị rủi ro tôi đã nhắc khá nhiều lần, và chúng ta “ôn lại” một chút để dùng cho lần sau (và có thể cho các ngày tới).
1. Luôn đề phòng trường hợp xấu nhất. Kế hoạch cho trường hợp xấu là gì?
2. Đặt ngưỡng cắt lỗ, tốt nhất mỗi cuối tuần cần review lại và chọn điểm dừng lỗ, hoặc chốt lãi. 
3. Luôn đảm bảo mỗi deal ko lỗ quá 2% tài sản của bạn, 1,5% tài sản càng tốt.
4. Giữ danh mục ít cổ phiếu, để xử lý nhanh, chính xác.
5. Đầu tư vào các cổ phiếu cơ bản, vì lâu dài nó vẫn sẽ lên. (cho dù có bị giảm sàn hôm biến động mạnh, thì cổ phiếu tốt có xu hướng giữ giá tốt hơn và hồi phục nhanh hơn)
6. Hạ tỉ trọng mỗi khi thị trường đang “tăng nóng” và hơi bất thường.
7. Đầu tư dài hạn cũng là một cách quản trị rủi ro (hãy thảo luận, nếu bạn không hiểu điều này)
Sau phiên sập sàn hôm nay, chúng ta cần bình tĩnh. AI full margin mai nhất thiết phải bán sớm nhất có thể phần có thể bị force sell. Bạn là người chịu trách nhiệm về việc này, bán xong thị trường lên cũng đừng đổ cho tôi nhé. Đây chính là quản trị rủi ro, vì trường hợp xấu xảy ra thì phần margin sẽ giết chết bạn.
Những ai chưa kịp bán thì tuỳ tỉ trọng và khẩu vị rủi ro vẫn nên bán dần.  Khi thị trường hồi bán mạnh nhất có thể, tập trung vào những cổ phiếu yếu và cơ bản ko tốt. Hoặc cổ phiếu bạn không hiểu gì về nó. 
Chưa cần bán sạch cổ phiếu, cổ phiếu cơ bản tốt cứ giữ lại, nhưng giảm tỉ trọng.
Xấu nhất thị trường này tôi cũng chỉ giảm đến 60% tiền mặt. Trừ khi có những biến động bất thường như hồi covid mới xuất hiện. 
Chỉ quay lại đầu tư khi thị trường cân bằng và cổ phiếu có mức giá đủ hấp dẫn

QUẢN TRỊ TIỀN - QUẢN TRỊ RỦI RO 
Tại thời điểm VNINDEX đã vượt 1000 điểm và đạt đỉnh của năm 2020 thì rất nhiều nhà đâu tư đang lăn tăn với câu hỏi, liệu đây có phải là đỉnh? Liệu có điều chỉnh hay không? Nếu điều chỉnh thì chỉ là điều chỉnh hay đảo chiều giảm mạnh luôn? Nên chốt lãi hay giữ lại cổ phiếu.
Một trong những vũ khí giúp đơn giản hoá công việc đâù tư của bạn là quản trị rủi ro. Nói rộng hơn là quản trị tiền. Và tôi có thể ứng dụng nó cho thới điểm khó đoán hiện tại
Đây là một chủ đề rất lớn, bài viết này sẽ chỉ cố gắng diễn tả mức độ quan trọng của việc quản trị rủi ro và ứng dụng cho giai đoạn hiện nay.
Tôi tạm chia ra làm 4 phần.
Phần 1: tầm quan trọng của quản trị rủi ro khi đầu tư tài chính. Nếu bạn đã biết rồi thì bạn có thể bỏ qua phần này
Phần 2: Cách thức quản trị rủi ro khi mua một cổ phiếu, các mức cut loss cơ bản
Phần 3: Là phần mở rộng của phần 2, là phần tôi vẫn hay dùng nếu tôi cut loss bị sai.
Phần 4: Ứng dụng Quản trị rủi ro tại thời điểm này, khi chúng ta không rõ thị trường đã “lên đỉnh” chưa? Thị trường có sập không
(Trong phần comment, tôi có lấy ví dụ quản trị rủi ro với chính tài khoản của tôi tiện tại)
1. Đầu tiên, chúng ta phải hiểu, rủi ro không phải là thứ để chúng ta sợ hãi, để chúng ta không dám xông lên. Nếu quá sợ hãi sẽ không có Tesla, sẽ không có Amazon, và tôi sẽ không dám mua cổ phiếu. Nếu chúng ta chỉ làm những việc an toàn và thì chúng ta sẽ rất khó thành công, khó giàu có và xã hội cũng sẽ chậm phát triển. 
Nhưng phải luôn tính đến rủi ro trong mọi việc, vì nếu làm quá đà thì khi mọi việc không đi đúng hướng thì nhẹ nhàng chúng ta sẽ mất rất nhiều tiền, nặng hơn thì ảnh hưởng tới cuộc sống và gia đình. Nếu bạn mở công ty kinh doanh, mà không hiểu rõ về thị trường thì bạn rất dễ mất hết tiền khi công ty bị đóng cửa. 95% các startup ở VIệt Nam giải tán sau 2 năm, vậy tiền bạc, công sức và thời gian của 95% các sáng lập viên start up đều tan theo mây khói. Còn nói về đầu tư tài chính, câu chuyện cháy tài khoản, hoặc thua lỗ nặng không có gì là quá đặc biệt với những nhà đầu tư trên đã tham gia thị trường lâu năm. Tôi đã tham gia dầu tư cổ phiếu 17 năm cũng có những thành công may mắn, và cũng từng chịu những khoản lỗ khổng lồ, tôi thấy bí quyết nằm ở sự cân bằng. Làm sao bạn hạn chế rủi ro, kiểm soát được rủi ro. Khi đó bạn sẽ kiếm được tiền khi mọi chuyện thuận lợi.
2. Vậy cụ thể hơn thì như thế nào? Đã có quá nhiều sách viết về chủ đề này, thực ra mọi việc rất đơn giản. Mỗi lần mua cổ phiếu, bạn hãy chấp nhận mình có thể sai. Nếu sai thì chỉ nên mất một số tiền ít thôi. Và cố gắng để nếu đúng thì lãi nhiều một chút, có như vậy sẽ bù cho nhiều lần sai. Trong dài hạn, ví dụ với trường hợp của tôi, bạn sẽ sống sót  và kiếm được lợi nhuận từ thị trường, vâng 17 năm rồi, và tôi hy vọng sẽ tiếp tục tồn tại trên thị trường.
Có một công thức bạn có thể tham khảo, là mỗi lần mua một cổ phiếu, hãy luôn có một ngưỡng cắt lỗ hợp lý. Thế nào là hợp lý, đầu tiên bạn nên có ngay trong đầu con số là bao nhiêu %, 5 , 7 hay 10%, tuỳ vào mức độ tin tưởng của bạn vào cổ phiếu bạn mua. Nhưng đừng quá 10%. Cá nhân tôi ưa thích mức 5%. 
Như thế vẫn chưa đủ, có một con số khác bạn cần quan tâm, là nếu thua lỗ thì ko nên vượt quá 2% tài sản của bạn, Nghĩa là nếu bạn có 1 tỉ, bạn quyết định dùng 500tr mua cổ phiếu A, Thì khi lỗ 5% tức là bạn mất 25tr, lúc này tài sản của bạn đã giảm 2.5% (trên tổng số vốn 1 tỉ) . Đây không phải là một kết quả tốt. Vì vậy hãy điều chỉnh, 4% bạn phải cutloss ngay, nếu muốn giữ mức cutloss cao, thì hãy giảm tỉ trọng xuống, ví dụ chỉ mua 200tr cổ phiếu A thôi. Khi này 5% của 200r chỉ còn 10tr, và so với tổng tài sản thì bạn chỉ lỗ 1%
Việc này rất quan trọng, vì bạn thấy là kiếm được 1% tài sản rất khó, bạn không được để mất. (À giai đoạn này các bạn có thể nói là kiếm tiền đâu có khó, nhưng xin nhớ sẽ có lúc thị trường vô cùng khó kiếm tiền) 
Ngoài ra mỗi khi thua lỗ, tài sản của bạn ít đi thì khả năng phục hồi sẽ lại khó hơn. Thật vậy khi bạn thua lỗ 50% tài khoản trong ví dụ trên, số tiền bạn có từ 1 tỉ chỉ còn có 500tr. Lúc này để quay lại 1 tỉ, thì bạn phải nhân đôi tài khoản, hay nói cách khác có phải có lợi nhuận gấp đôi.  
 Cá nhân tôi cố gắng để mỗi lần mua bán cổ phiếu, không thua lỗ quá 1.5% tài sản.
3. Có con số cutloss hợp lý rồi, vậy phải làm sao để nếu ngay khi cutloss mà cổ phiếu lại tăng trở lại. Lúc này bạn cần có kế hoạch rất rõ ràng, (1) Bỏ đi, luôn có một cơ hội khác, chúng ta chấp nhận là chúng ta đã vào sai điểm. (2) Có kế hoạch cho điểm vào lại, thực tế luôn có trường hợp những tay chơi lớn (Big boys) họ cố tình đè giá để những nhà đầu tư nhỏ lẻ như chúng ta cut loss. Nếu rơi vào trường hợp này, thường cổ phiếu sẽ tăng trở lại rất mạnh mẽ, đừng ngại mua lại chính cổ phiếu chúng ta vừa cutloss sớm nhất có thể khi thấy nó tăng lại. Tôi sẵn sàng mua lại điểm mua cũ hoặc cao hơn điểm mua cũ 2%. Và luôn nhớ thiết lập ngưỡng cut loss theo đúng kỷ luật. Nếu tiếp tục bị “lừa” nữa, hãy chấp nhận chúng ta đã thua hai lần liên tiếp. Hãy coi đây là 2 lần mua cổ phiếu riêng biệt. 
Từ đây bạn sẽ nhận thấy thêm một điều, tần xuất giao dịch rất quan trọng, vì nếu bạn giao dịch quá nhiều và sai nhiều thì tốc độ mất tiền cũng sẽ rất nhanh cho dù bạn tuân thủ kỷ luật cut loss. Hãy kỹ càng khi chọn lựa cổ phiếu và chọn thời điểm. Chắc chắn bạn sẽ mất ít tiền hơn, và khi mất ít tiền thì cơ hội thành công sẽ tăng lên. 
4. Vậy cutloss/ quản trị rủi ro có liên quan gì đến thời điểm hiện nay của thị trường, tôi đang có lãi cơ mà? Với cá nhân tôi, ứng dụng của quản trị rủi ro lúc này lại rất có tác dụng với thị trường hiện tại. Thứ nhất, bạn đừng quá quan tâm tới chỉ số của thị trường, hãy tập trung vào cổ phiếu của bạn. Vì nếu cổ phiếu của bạn tốt, thì khi thị trường điều chỉnh, có khi cổ phiếu của bạn điều chỉnh ít hơn, không điều chỉnh hoặc vẫn tăng giá. Vì thế nếu chỉ vì Vnindex đỏ lửa, mà bạn vội vàng bán cổ phiếu của mình thì có phải là sai lầm không? 
Thức hai, hãy chú ý tới vị thế của bạn, nếu bạn mới mua cổ phiếu, thì vẫn cứ áp dụng phương pháp quản trị rủi ro như bình thường, tuân thủ ngưỡng cut loss bạn đã đề ra từ trước. Còn nếu cổ phiếu bạn mua từ cả tháng trước và đang có lợi nhuận tốt, ví dụ 20% chẳng hạn. Đừng ngần ngại đặt mức cutloss mới. Ví dụ bạn mua cổ phiếu giá 10, giờ nó đã ở mức giá 12. Tôi luôn sẵn sàng đặt mức cutloss ở mức 11- 11.5, tuỳ vào tiềm năng cổ phiếu bạn đang nắm. Hãy đảm bảo bạn có lãi trong trường hợp này, tiền về túi mình mới là thực sự là tiền của mình và một khi đã đạt được khoản lãi 20%, thì hãy coi tối thiểu một nửa trong số đó giờ là vốn của bạn. Với việc quản nâng mức cutloss lên, bạn luôn chủ động với thị trường và luôn không sợ lỗ. Hãy kệ nhà tạo lập, họ muốn điều chỉnh, cho tăng tiếp, hay kể cả đảo chiều giảm mạnh, bạn vẫn luôn biết mình cần làm gì với cổ phiếu của mình. 
Để ý một chút, bạn sẽ thấy phần 3 là phần giúp bạn lập trước kế hoạch nếu thị trường điều chỉnh làm cổ phiếu của bạn rơi vào đúng điểm cutloss thì đi lên. Nếu bạn vẫn tin cổ phiếu bạn tốt, đừng ngần ngại mua lại và coi đây là một deal hoàn toàn mới.
Như vậy ứng dụng quản trị rủi ro – quản trị tiền của mình một cách có kế hoạch, bạn sẽ biết phải làm gì kể cả khi thị trường khó đoán như hiện nay. 

Thứ Hai, 17 tháng 1, 2022

Khi thị trường điều chỉnh

 Về cách xử lý hiện tại của chúng ta ntn là hợp lý:

- Nếu giữ tiền và cổ phiếu: là cơ hội tốt để hạ giá vốn xuống, tranh thủ các phiên sập sàn để bắt đáy cổ phiếu tốt mình giữ. Và bán ra lượng tương tự khi cổ phiếu đó tăng mạnh lên, bảo toàn số lượng cổ phiếu ta có. Nếu 100% đang ở tiền mặt thì là cơ hội quá tốt để mua rồi, mà dễ gì có 100% cash on hand lúc này cơ chứ.

- Nếu lỡ all in vào hàng đầu cơ: Bán ngay lập tức khi có nhịp hồi và không trở lại với nhóm cp này. Robin hay nói: “Thà nuốt nước bọt còn hơn lau nước mắt”. Bài học đáng giá vừa qua là lời cảnh tỉnh cho anh em.

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

SÓNG NGÀNH

Có thể, các bạn đã từng nghe đến khái niệm này rồi. Nhưng hôm nay tôi xin chia sẻ lại một chút kỹ hơn về việc này, đồng thời mô tả một chút về việc kết hợp phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản để tận dụng sóng ngàng.

Định nghĩ đơn giản của sóng ngành : là sự tăng giá đồng loạt (hoặc đôi khi là giảm gía) của một loạt cổ phiếu trong cùng một ngành. Các ngành trên sàn chứng khoán thì các bạn đã thấy quá nhiều người nói rồi đúng không? Ngành Bất Động Sản vừa tăng nóng, Ngành chứng khoán đã tăng siêu khủng và sắp tăng nóng tiếp? Ngành Ngân hàng đang chậm chạp … 

Quá dễ quá đơn giản, nhưng không phải ai cũng tận dụng được các cơn sóng này hiệu quả. Vậy làm thế nào ??? Sóng ngành là cơ hội, nhưng muốn chớp cơ hội bạn phải sẵn sàng. Chứ đi theo một chuyện đã rồi thì rất dễ thua thiệt

1. Việc đầu tiên là phải sắp xếp ngăn nắp các nhóm cổ phiếu. Hãy xếp các cồng ty cùng ngành vào từng bảng giá khác nhau. Cái này rất dễ, vì các công ty chưng khoán đa phần đều cho bạn tạo các watch list. Hãy tạo watch list BĐS, Chứng khoán, Ngân Hàng, Dầu khí … riêng

2. Sau khi sắp xếp ngành, bạn phải tìm hiểu sơ bộ cơ bản các công ty trong ngành. Công ty nào đầu ngành, công ty nào hiệu quả, công ty nào minh bạch, các đặc điểm của từng công ty. VÍ dụ: Chứng khoán bạn phải biết các công ty thị phần.môi giới thế nào? Có sản phầm gì? Chiến lược của các ra sao? Cụ thể hơn, bạn phải biết là VCI có doanh mục tự doanh rất tốt, FTS thì đang  đầu tư rất mạnh vào may sông hồng (MSH). VND đang cố phát triển tập khách hàng mà không dùng đến Broker, ORS đang cố đẩy mạnh mảng trái phiếu. Thép cũng vậy, HPG hoàn thiện chuỗi giá trị, ngoài thép ra còn nông nghiệp và sắp làm BĐS, Nam Kim với HSG chủ yếu làm Tôn từ thép HCR, HSG còn có mảng nhựa. VGS ngoài thép ...còn có Bất động sản. Nói đến BĐS bản phải biết các công ty có các dự án gì? Có nhiều tiền để triển khai không? Quá khứ triển khai của họ có tốt không? Họ có đẩy dự án cho công ty sân sau không? Lan man một chút đoạn này để các bạn hiểu là chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng kiến thức để ra quyết định nhanh và chuẩn xác.

Sau khi đã có sự chuẩn bị tương đối, thì việc tiếp theo của chúng ta là theo dõi. 

3. Theo dõi hàng ngày/ hàng tuần không nhất thiết các bạn phải bám bảng điện. Nhưng cuối ngày hãy xem lướt qua bảng điện từng dòng, để xem hôm này dòng nào nổi sóng. Ví dụ hôm thứ 4 vừa rồi, nếu bạn không theo dõi thì buổi tối lướt qua bảng điện cũng biết BĐS bị bán tháo và Ngân Hàng bắt đầu tăng. HOặc hôm thứ 5 thì Chứng khoán tăng.

4. Xem lướt qua đồ thị của từng dòng và phát hiện những điểm cần chú ý. Nếu trong tuần không có những phiên như thứ 4 và thứ 5 vừa rồi, chúng ta đợi đến cuối tuần để rà soát một lượt cũng được. Sóng không sinh ra sau một phiên, nên bạn đừng sợ bỏ lỡ điều gì trong tuần. Xem kỹ và ghi nhận xét lại chúng ta sẽ rút ra được rất nhiều điều thú vị. VÍ dụ từ cách đây 2 tuần, tôi đã thấy sự tích cực của dòng chứng khoán, dù về mặt cơ bản thì định giá các công ty chứng khoán đang ở vùng cao nhất lịch sử (P/B rất cao). Tích cực thế nào? Đồ thị của VND và VCI liên tục áp sát đỉnh thời đại, đồng thời có đoạn tích luỹ khá tốt phía trước. Các cổ phiếu nhỏ hơn cũng có vận động tích cực, ORS cũng ở vùng đỉnh. Vậy lúc này phân tích kỹ thuật đã kể câu chuyện gì đó mà tôi chưa nhận ra. Và tôi đã quyết định mua cổ phiếu VND vào phiên 28/10 khi nó vượt đỉnh kèm khối lượng lớn. Nếu bạn nói tôi mâu thuẫn vì từng có bài viết về việc không mua cổ phiếu vượt đỉnh thì bạn cũng đúng. Nhưng ở bài đó, ý chính là không mua mù quáng, còn trường hợp này tôi mua VND vì “ngửi” thấy sóng ngành. Ngoài ra tôi đã chuẩn bị tìm hiểu rất kỹ thông tin về các công ty, nên tốt biết VND là công ty có hiệu quả kinh doanh tốt nhất ngành chứng khoán hiện nay. 

Việc theo dõi cổ phiếu ngành cũng giúp bạn thấy một số hiện tượng. Ví dụ thời điểm cuối tháng 7 đầu tháng 8 một loạt các công ty ngành thép tăng rất khá. Như SMC, NKG, hay VGS. Vì vậy tôi đã quyết định mua mạnh HPG ở vùng giá 47.x - 48 (thực ra tôi chưa bao giờ bán hết cổ phiếu HPG trong danh mục). Nếu tôi mua NKG thì tôi sẽ có lãi nhiều hơn, nhưng riêng ngành thép vì đã nghiên cứu kỹ nên tôi chỉ chọn HPG để có thể giữ được dài hạn (thú thực là tôi cũng tiếc vì sự bảo thủ này, HSG tăng từ đáy lên 11 lầ chỉ trong hơn 1 năm, nhưng chúng ta không thể lúc nào cũng cầm cổ phiếu  lãi nhiều nhất) 

Hoặc nếu bạn chú ý kỹ, thời điểm đầu tháng 7  trong khi thị trường giảm rất mạnh, thì ngành BĐS hầu như không giảm, một số cổ phiếu còn tăng giá ngược dòng (như HDG, HDC) điều này cũng báo hiệu một con sóng BĐS phía sau, và nó đã diễn ra vào tháng 10. Tôi đã mua NLG từ những sự chuẩn bị trước của tôi ở phần đầu (bước 1-2), có điều tôi không thể biết được sự tăng giá điên khùng của dòng này. 

Đầu tư/ đầu cơ theo sóng dòng có lẽ là một ví dụ về sự kết hợp giữa phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản mà tôi ưng ý nhất. Bạn có thể phát hiện sóng dòng dựa vào phân tích kỹ thuật, rồi dùng những hiểu biết của bạn về phân tích cơ bản để lựa chọn cổ phiếu bạn quyết định đầu tư.

Còn một bí mật nữa, đó là sau khi thấy có khả năng có sóng dòng, hãy sục sạo tìm thông tin để tìm hiểu vì sao dòng này lại tăng. Điều đó sẽ cùng cố cho quyết định của bạn. Ví dụ tôi đã để ý thấy tốc độ xuất khẩu thép/ tôn quý 2 và đầu quý 3 tăng rất mạnh, cái này nhờ vào việc tìm số liệu xuất khẩu. Hoặc bây giờ ai cũng nói đến việc giao dịch tăng đột biến, căng margin thì các công ty chứng khoán hưởng lợi (ai hưởng lợi nhất nhỉ???). 

Tôi cũng bỏ lỡ rất nhiều cơ hội, ví dụ như dòng phân đạm, cảng biển, dệt may, tôi không theo dõi kỹ nên bỏ lỡ các cơ hội đầu tư. Hoặc khi giá dầu tăng, tôi đã phân tích sai BSR và bỏ lỡ cơ hội ( cổ phiếu mà năm ngoái và đầu năm nay tôi đã thắng rất đậm). Nhưng dù vậy, nếu chúng ta để ý kỹ về các dòng và có sự chuẩn bị trước. Cơ hội nâng cao lợi nhuận của chúng ta sẽ lớn hơn rất nhiều

Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2022

Phân tích báo cáo ngành ngân hàng

 Bài này tôi viết lại những nội dung chính dựa trên videos này
1. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến Lợi nhuận của ngân hàng cần xem trong báo cáo tài chính
    - Thu nhập lãi thuần
    - Thu nhập từ hoạt động dịch vụ
    - Chi phí hoạt động
    - Chi phí dự phòng

2. Thu nhập lãi thuần
    Yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi thuần gồm NIM và Tăng trưởng tín dụng
    Tăng trưởng tín dụng có thể tính nhanh trong báo cáo bằng cách so sánh tăng trưởng của Cho vay khách hàng và Chứng khoán đầu tư, là 2 khoản chiếm tỉ trọng lớn
    NIM thì khá phức tạp, ta có thể nhìn sang CASA để tính
    CASA có thể tính nhanh bằng tỉ lệ tiền gửi không kỳ hạn chia cho tổng tiền gửi, ngân hàng có CASA càng cao, NIM càng cao

 3. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ
    Chiếm tỉ lệ càng cao càng tốt, càng nhiều dịch vụ càng tốt, vì mảng này có tiềm năng tăng trưởng lớn, trong khi Lãi thuần bị hạn chế bởi tăng trưởng tín dụng
   
4. Chi phí dự phòng
Quan trọng vì nó đánh giá chất lượng tài sản, ảnh hưởng lớn đến Lợi nhuận